Cẩm nang đi du lịch Bình Định

 

1. Sơ Lược

Bình Định là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố cảng Quy Nhơn nằm cách thủ đô Hà Nội 1.065 km về phía bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 649 km về phía nam.[1]

Lịch sử

Bình Định xưa là đất thuộc Việt Thường Thị và nền văn hóa Sa Huỳnh, sau đóngười Chăm đã tới chiếm lĩnh vùng đất này ( cần dẫn chứng để chứng minh điều này ). Đến đời nhà Tần , đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, năm Vĩnh Hoà 2 (137) người trong quận làm chức Công Tào tên là Khu Liên đã giết viên huyện lệnh chiếm đất và tự phong là Lâm Ấp vương.

  • Đời nhà Tùy (605) dẹp Lâm Ấp đặt tên là Xung Châu, sau đó lại lấy tên cũ là Lâm Ấp.
  • Đời nhà Đường,
  • Năm 803, nhà Đường bỏ đất này và nước Chiêm Thành của người Chăm ra đời, đất này được đổi là Đồ Bàn, Thị Nại.
  • Đời nhà Lê
  • Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn thuộc dinh Quảng Nam.
  • Năm 1651, chúa Nguyễn Phúc Tần, đã đổi tên phủ Quy Nhơn thành phủ Quy Ninh.
  • Năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lấy lại tên cũ là Quy Nhơn.
  • Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt các đạo làm dinh, nhưng cấp phủ vẫn giữ nguyên. Phủ Quy Nhơn vẫn thuộc về dinh Quảng Nam, đặt các chức tuần phủ và khám lý để cai trị. Phủ lỵ dời ra phía Bắc thành Đồ Bàn, đóng tại thôn Châu Thành (nay là phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn).
  • Năm 1725, ở phủ Quy Nhơn đặt các chức quan trông coi: Chánh hộ, Khám lý, Đề đốc, Đề lãnh, Ký lục, Cai phủ, Thư ký, mỗi chức đặt một người; mỗi huyện đặt cai tri, thư ký, mỗi chức một người và 2 viên lục lại; mỗi tổng có cai tổng.
  • Từ 1773 đến 1797, nhà Tây Sơn chiếm cứ đất này, sau khi lấy lại đất này Nguyễn Ánh đổi tên đất này là dinh Bình Định, sai Võ Tánh và Ngô Tùng Châu trấn thủ và đặt quan cai trị gọi là Lưu Thủ, Cai Bộ, Ký Lục.
  • Năm 1808 đổi dinh Bình Định thành trấn Bình Định.
  • Năm 1814, vua Gia Long cho xây dựng lại thành Bình Định mới, ngày nay ở thị trấn Bình Định, nằm về phía đông nam và cách thành cũ khoảng 5 km ở phía gần sông Côn. Sau khi xây xong cho chuyển toàn bộ nhà cửa về thành mới này.
  • Năm 1825 đặt tri phủ Quy Nhơn, năm 1831 lại đổi thành phủ Hoài Nhơn.
  • Năm 1832 tách huyện Tuy viễn thành hai huyện Tuy Viễn và Tuy Phước, tách huyện Phù Ly thành hai huyện Phù Mỹ và Phù Cát đồng thời Bình Định và Phú Yên thành liên tỉnh Bình Phú, sau đó bỏ liên tỉnh này.
  • Năm 1888 đặt huyện Bình Khê. Vào năm 1885 Bình Định là một tỉnh lớn ở Trung Kỳ, nhiều vùng đất của Gia Lai - Kon Tum còn thuộc về Bình Định.
  • Năm 1890, thực dân Pháp sát nhập thêm Phú Yên vào tỉnh Bình Định thành tỉnh Bình Phú, tỉnh lỵ là Quy Nhơn. Nhưng đến năm1899, Phú Yên tách ra khỏi Bình Phú.

  • Ngày 4 tháng 7 năm 1905, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh tự trị Pleikou Derr, tỉnh lỵ đặt tại làng Pleikan Derr của dân tộc Gia Lai. Địa bàn tỉnh Pleikou Derr bao gồm các vùng cư trú của đồng bào thiểu số Xơ đăng, Bana, Gialai tách từ tỉnh Bình Định ra.
  • Ngày 25 tháng 4 năm 1907 xoá bỏ tỉnh Pleikou Derr. Toàn bộ đất đai của tỉnh này chia làm hai phần: một là Đại lý Kontum cho sát nhập trở lại tỉnh Bình Định và đặt dưới sự cai trị của Công sứ Bình Định; một gọi là Đại lý Cheo Reo, cho sát nhập vào tỉnh Phú Yên và đặt dưới sự cai trị của Công sứ Phú Yên.
  • Năm 1913, thực dân Pháp lại sát nhập Phú Yên vào Bình Định thành tỉnh Bình Phú và thành lập tỉnh Kontum làm tỉnh riêng; địa bàn tỉnh Kontum bao gồm Đại lý Kontum tách từ tỉnh Bình Định, Đại lý Cheo Reo tách từ tỉnh Phú Yên và Đại lý Đắc Lắc. Ngày 28 tháng 3 năm 1917 cắt tổng Tân Phong và tổng An Khê thuộc cao nguyên An Khê, tỉnh Bình Định, sát nhập vào tỉnh Kontum.
  • Năm 1921, thực dân Pháp cắt tỉnh Phú Yên ra khỏi tỉnh Bình Định và kéo dài cho đến năm 1945. Thời Việt Nam Cộng hòa đổi các huyện thành quận, tỉnh Bình Định có 11 quận, 1 thị xã, trong đó có 4 quận miền núi. Tháng 2 năm 1976, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam theo đó hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình.
  • Năm 1989, Bình Định tách ra từ tỉnh Nghĩa Bình để tái lập lại tỉnh và kéo dài như vậy cho đến nay.[2]

Vị trí địa lý

 

Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam, có chiều ngang với độ hẹp trung bình là 55 km (chỗ hẹp nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km). Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi với đường ranh giới chung 63 km (điểm cực Bắc có tọa độ: 14°42'10 Bắc, 108°55'4 Đông). Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên với đường ranh giới chung 50 km (điểm cực Nam có tọa độ: 13°39'10 Bắc, 108o54'00 Đông). Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai có đường ranh giới chung 130 km (điểm cực Tây có tọa độ: 14°27' Bắc, 108°27' Đông). Phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Qui Nhơn (có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21' Đông). Bình Định được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnhTây Nguyên và vùng nam Lào.

Địa hình

Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ tây sang đông. Phía tây của tỉnh là vùng núi rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và tiếp theo là vùng ven biển. Các dạng địa hình phổ biến là các dãy núi cao, đồi thấp xen lẫn thung lũng hẹp độ cao trên dưới 100 mét, hướng vuông góc với dãy Trường Sơn, các đồng bằng lòng chảo, các đồng bằng duyên hải bị chia nhỏ do các nhánh núi đâm ra biển. Ngoài cùng là cồn vát ven biển có độ dốc không đối xứng giữa 2 hướng sườn đông và tây. Các dạng địa hình chủ yếu của tỉnh là:

  • Vùng núi: Nằm về phía tây bắc và phía tây của tỉnh. Đại bộ phận sườn dốc hơn 20°. Có diện tích khoảng 249.866 ha, phân bố ở các huyện An Lão (63.367 ha), Vĩnh Thạnh (78.249 ha), Vân Canh (75.932 ha), Tây Sơn và Hoài Ân (31.000 ha). Địa hình khu vực này phân cắt mạnh, sông suối có độ dốc lớn, là nơi phát nguồn của các sông trong tỉnh. Chiếm 70% diện tích toàn tỉnh thường có độ cao trung bình 500-1.000 m, trong đó có 11 đỉnh cao trên 1.000 m, đỉnh cao nhất là 1.202 m ở xã An Toàn (huyện An Lão). Còn lại có 13 đỉnh cao 700-1000m. Các dãy núi chạy theo hướng Bắc - Nam, có sườn dốc đứng. Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp. Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm phá.

  • Vùng đồi: tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía đông, có diện tích khoảng 159.276 ha (chiếm khoảng 10% diện tích), có độ cao dưới 100 m, độ dốc tương đối lớn từ 10° đến 15°. Phân bố ở các huyện Hoài Nhơn (15.089 ha), An Lão (5.058 ha) và Vân Canh (7.924 ha).
  • Vùng đồng bằng: Tỉnh Bình Định không có dạng đồng bằng châu thổ mà phần lớn là các đồng bằng nhỏ được tạo thành do các yếu tố địa hình và khí hậu, các đồng bằng này thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi. Độ cao trung bình của dạng địa hình đồng bằng lòng chảo này khoảng 25–50 m và chiếm diện tích khoảng 1.000 km². Đồng bằng lớn nhất của tỉnh là đồng bằng thuộc hạ lưu sông Kôn, còn lại là các đồng bằng nhỏ thường phân bố dọc theo các nhánh sông hay dọc theo các chân núi và ven biển.
  • Vùng ven biển: Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với chiều rộng trung bình khoảng 2 km, hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian. Trong tỉnh có các dãi cát lớn là: dãi cát từ Hà Ra đến Tân Phụng, dãi cát từ Tân Phụng đến vĩnh Lợi, dãi cát từ Đề Gi đến Tân Thắng, dãi cát từ Trung Lương đến Lý Hưng. Ven biển còn có nhiều đầm như đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Mỹ Khánh, đầm Thị Nại; các vịnh như vịnh Làng Mai, vịnh Quy Nhơn, vịnh Vũng Mới...; các cửa biểnnhư Cửa Tam Quan, cửa An Dũ, cửa Hà Ra, cửa Đề Gi và cửa Quy Nhơn. Các cửa trên là cửa trao đổi nước giữa sông và biển. Hiện tại ngoại trừ cửa Quy Nhơn và cửa Tam Quan khá ổn định, còn các cửa An Dũ, Hà Ra, Đề Gi luôn có sự bồi lấp và biến động.

Hải đảo

 

Ven bờ biển tỉnh Bình Định gồm có 33 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc đảo đơn lẻ.

  • Tại khu vực biển thuộc thành phố Quy Nhơn gồm cụm đảo Cù Lao Xanh là cụm đảo lớn gồm 3 đảo nhỏ; cụm Đảo Hòn Đất gồm các đảo nhỏ như Hòn Ngang, Hòn Đất, Hòn Rớ; cụm Đảo Hòn Khô còn gọi là cù lao Hòn Khô gồm 2 đảo nhỏ; cụm Đảo Nghiêm Kinh Chiểu gồm 10 đảo nhỏ (lớn nhất là Hòn Sẹo); cụm Đảo Hòn Cân gồm 5 đảo nhỏ trong đó có Hòn ông Căn là điểm A9 trong 12 điểm để xác định đường cơ sở của Việt Nam; Đảo đơn Hòn Ông Cơ.
  • Tại khu vực biển thuộc huyện Phù Mỹ gồm cụm Đảo Hòn Trâu hay Hòn Trâu Nằm gồm 4 đảo nhỏ; Đảo Hòn Khô còn gọi là Hòn Rùa. Ven biển xã Mỹ Thọ có 3 đảo nhỏ gồm: Đảo Hòn Đụn còn gọi là Hòn Nước hay Đảo Đồn; Đảo Hòn Tranh còn gọi là Đảo Quy vì có hình dáng giống như con rùa, đảo này nằm rất gần bờ có thể đi bộ ra đảo khi thủy triều xuống; Đảo Hòn Nhàn nằm cạnh Hòn Đụn.

Trong các đảo nói trên thì chỉ đảo Cù Lao Xanh là có dân cư sinh sống, các đảo còn lại là những đảo nhỏ một số đảo còn không có thực vật sinh sống chỉ toàn đá và cát. Dọc bờ biển của tỉnh, ngoài các đèn hiệu hướng dẫn tàu thuyền ra vào cảng Quy Nhơn, thì Bình Định còn có 2 ngọn hải đăng: một ngọn được xây dựng trên mạng bắc của núi Gò Dưa thuộc thôn Tân Phụng xã Mỹ Thọ huyện Phù Mỹ, ngọn này có tên gọi là Hải Đăng Vũng Mới hay Hải Đăng Hòn Nước; ngọn thứ hai được xây dựng trên đảo Cù Lao Xanh thuộc xã Nhơn Châu thành phố Quy Nhơn.

Sông ngòi

 

Các sông trong tỉnh đều bắt nguồn từ những vùng núi cao của sườn phía đông dãy Trường Sơn. Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp, tổng trữ lượng nước 5,2 tỷ m³, tiềm năng thuỷ điện 182,4 triệu kw. Ở thượng lưu có nhiều dãy núi bám sát bờ sông nên độ dốc rất lớn, lũ lên xuống rất nhanh, thời gian truyền lũ ngắn. Ở đoạn đồng bằng lòng sông rộng và nông có nhiều luồng lạch, mùa kiệt nguồn nước rất nghèo nàn; nhưng khi lũ lớn nước tràn ngập mênh mông vùng hạ lưu gây ngập úng dài ngày vì các cửa sông nhỏ và các công trình che chắn nên thoát lũ kém. Trong tỉnh có bốn con sông lớn là Côn, Lại Giang, La Tinh vàHà Thanh cùng các sông nhỏ như Châu Trúc hay Tam Quan. Ngoài các sông đáng kể nói trên còn lại là hệ thống các suối nhỏ chằng chịt thường chỉ có nước chảy về mùa lũ và mạng lưới các sông suối ở miền núi tạo điều kiện cho phát triển thuỷ lợi và thuỷ điện. Độ che phủ của rừng đến nay chỉ còn khoảng trên 40% nên hàng năm các sông này gây lũ lụt, sa bồi, thuỷ phá nghiêm trọng. Ngược lại, mùa khô nước các sông cạn kiệt, thiếu nước tưới.

Hồ đầm

Toàn tỉnh Bình Định có nhiều hồ nhân tạo được xây dựng để phục vụ mục đích tưới tiêu trong mùa khô. Trong đó có thể kể tên một số hồ lớn tại các huyện trong tỉnh như: hồ Hưng Long (An Lão); hồ Vạn Hội, Mỹ Đức và Thạch Khê (Hoài Ân); hồ Mỹ Bình (Hoài Nhơn); hồ Hội Sơn và Mỹ Thuận (Phù Cát); hồ Diêm Tiêu, Hóc Nhạn và Phú Hà (Phù Mỹ); hồ Định Bình, Thuận Ninh (Tây Sơn); hồ Núi Một (Vân Canh - An Nhơn); hồ Vĩnh Sơn, hồ Định Bình (Vĩnh Thạnh). Ngoài ra Bình Định còn có một đầm nước ngọt khá rộng là đầm Trà Ổ (Phù Mỹ) và hai đầm nước lợ là Đề Gi (Phù Mỹ - Phù Cát) và Thị Nại (Tuy Phước - Quy Nhơn). Hệ thống hồ đầm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản. Đặc biệt đầm Thị Nại là đầm lớn rất thuận lợi cho việc phát triển cảng biển tầm cở quốc gia và góp phần phát triển khu kinh tế Nhơn Hội, đầm còn được biết đến với cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam hiện nay.

Khí hậu

Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Do sự phức tạp của địa hình nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều.

  • Nhiệt độ không khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20,1 - 26,1°C, cao nhất là 31,7°C và thấp nhất là 16,5°C. Tại vùng duyên hải, nhiệt độ không khí trung bình năm là 27,0°C, cao nhất 39,9°C và thấp nhất 15,8°C.
  • Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5 - 27,9% và độ ẩm tương đối 79-92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối trung bình là 79%.
  • Chế độ mưa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12. Riêng đối với khu vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ tháng 5 - 8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây Nguyên. Mùa khô kéo dài tháng 1 - 8. Đối với các huyện miền núi tổng lượng mưa trung bình năm 2.000 - 2.400 mm. Đối với vùng duyên hải tổng lượng mưa trung bình năm là 1.751 mm. Tổng lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần từ miền núi xuống duyên hải và có xu thế giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
  • Về bão: Bình Định nằm ở miền Trung Trung bộ Việt Nam, đây là miền thường có bão đổ bộ vào đất liền. Hàng năm trong đoạn bờ biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Khánh Hòa trung bình có 1,04 cơn bão đổ bộ vào. Tần suất xuất hiện bão lớn nhất tháng 9 - 11.

Hành chính

Bình Định bao gồm 1 thành phố trực thuộc, 1 thị xã và 9 huyện:

  • Thành phố Quy Nhơn 16 phường và 5 xã
  • Thị xã An Nhơn 5 phường và 10 xã
  • Huyện An Lão 1 thị trấn và 9 xã
  • Huyện Hoài Ân 1 thị trấn và 14 xã
  • Huyện Hoài Nhơn 2 thị trấn và 15 xã
  • Huyện Phù Cát 1 thị trấn và 17 xã
  • Huyện Phù Mỹ 2 thị trấn và 17 xã
  • Huyện Tuy Phước 2 thị trấn và 11 xã
  • Huyện Tây Sơn 1 thị trấn và 14 xã
  • Huyện Vân Canh 1 thị trấn và 6 xã
  • Huyện Vĩnh Thạnh 1 thị trấn và 8 xã

Toàn tỉnh Bình Định có 161 xã, phường và thị trấn.[1]

 

Thống kê đến ngày 30/06/2004 Tỉnh Bình Định có tổng số xã, phường, thị trấn: 155; xã: 127, phường: 21, thị trấn: 12.

  1. Thành phố Quy Nhơn 16 phường, 4 xã: Phường Bùi Thị Xuân, Phường Đống Đa, Phường Ghềnh Ráng, Phường Hải Cảng, Phường Lê Hồng Phong, Phường Lê Lợi, Phường Lý Thường Kiệt, Phường Ngô Mây, Phường Nguyễn Văn Cừ, Phường Nhơn Bình, Phường Nhơn Phú, Phường Quang Trung, Phường Thị Nại, Phường Trần Hưng Đạo, Phường Trần Phú, Phường Trần Quang Diệu, Xã Nhơn Châu, Xã Nhơn Hải, Xã Nhơn Hội, Xã Nhơn Lý.
  2. Thị xã An Nhơn 5 phường và 10 xã: Phường Bình Định, Phường Đập Đá, Phường Nhơn Hòa, Phường Nhơn Hưng, Phường Nhơn Thành, Xã Nhơn An, Xã Nhơn Hạnh, Xã Nhơn Hậu, Xã Nhơn Khánh, Xã Nhơn Lộc, Xã Nhơn Mỹ, Xã Nhơn Phong, Xã Nhơn Phúc, Xã Nhơn Tân, Xã Nhơn Thọ.
  3. Huyện An Lão 1 thị trấn, 9 xã: Thị trấn An Lão, Xã An Dũng, Xã An Hòa, Xã An Hưng, Xã An Nghĩa, Xã An Quang, Xã An Tân, Xã An Toàn, Xã An Trung, Xã An Vinh.
  4. Huyện Hoài Nhơn 2 thị trấn, 15 xã: Thị trấn Tam Quan, Thị trấn Bồng Sơn, Xã Hoài Châu, Xã Hoài Châu Bắc, Xã Hoài Đức, Xã Hoài Hải, Xã Hoài Hảo, Xã Hoài Hương, Xã Hoài Mỹ, Xã Hoài Phú, Xã Hoài Sơn, Xã Hoài Tân, Xã Hoài Thanh, Xã Hoài Thanh Tây, Xã Hoài Xuân, Xã Tam Quan Bắc, Xã Tam Quan Nam.
  5. Huyện Hoài Ân 1 thị trấn, 14 xã: Thị trấn Tăng Bạt Hổ, Xã Ân Đức, Xã Ân Hảo Đông, Ân Hảo Tây, Xã Ân Hữu, Xã Ân Mỹ, Xã Ân Nghĩa, Xã Ân Phong, Xã Ân Sơn, Xã Ân Thạnh, Xã Ân Tín, Xã Ân Tường Đông, Xã Ân Tường Tây, Xã BokTơi, Xã ĐakMang.
  6. Huyện Phù Mỹ 2 thị trấn, 17 xã: Thị trấn Bình Dương, Thị trấn Phù Mỹ, Xã Mỹ An, Xã Mỹ Cát, Xã Mỹ Chánh, Xã Mỹ Chánh Tây, Xã Mỹ Châu, Xã Mỹ Đức, Xã Mỹ Hiệp, Xã Mỹ Hòa, Xã Mỹ Lộc, Xã Mỹ Lợi, Xã Mỹ Phong, Xã Mỹ Quang, Xã Mỹ Tài, Xã Mỹ Thắng, Xã Mỹ Thành, Xã Mỹ Thọ, Xã Mỹ Trinh.
  7. Huyện Vĩnh Thạnh 7 xã: Xã Vĩnh Hảo, Xã Vĩnh Hiệp, Xã Vĩnh Hòa, Xã Vĩnh Kim, Xã Vĩnh Quang, Xã Vĩnh Sơn, Xã Vĩnh Thịnh.
  8. Huyện Tây Sơn 1 thị trấn, 14 xã: Thị trấn Phú Phong, Xã Bình Hòa, Xã Bình Nghi, Xã Bình Tân, Xã Bình Thành, Xã Bình Thuận, Xã Bình Tường, Xã Tây An, Xã Tây Bình, Xã Tây Giang, Xã Tây Phú, Xã Tây Thuận, Xã Tây Vinh, Xã Tây Xuân, Xã Vĩnh An.
  9. Huyện Phù Cát 1 thị trấn, 17 xã: Thị trấn Ngô Mây, Xã Cát Chánh, Xã Cát Hải, Xã Cát Hanh, Xã Cát Hiệp, Xã Cát Hưng, Xã Cát Khánh, Xã Cát Lâm, Xã Cát Minh, Xã Cát Nhơn, Xã Cát Sơn, Xã Cát Tài, Xã Cát Tân, Xã Cát Thắng, Xã Cát Thành, Xã Cát Tiến, Xã Cát Trinh, Xã Cát Tường.
  10. Huyện Tuy Phước 2 thị trấn, 11 xã: Thị trấn Diêu Trì, Thị trấn Tuy Phước, Xã Phước An, Xã Phước Hiệp, Xã Phước Hòa, Xã Phước Hưng, Xã Phước Lộc, Xã Phước Nghĩa, Xã Phước Quang, Xã Phước Sơn, Xã Phước Thắng, Xã Phước Thành, Xã Phước Thuận.
  11. Huyện Vân Canh 1 thị trấn, 6 xã: Thị trấn Vân Canh, Xã Canh Hiển, Xã Canh Hiệp, Xã Canh Hòa, Xã Canh Liên, Xã Canh Thuận, Xã Canh Vinh.

Diện tích, dân số, dân tộc

Bình Định có diện tích tự nhiên 6.039 km², dân số 1.578.900 người, mật độ dân số 261.5 người/km² (số liệu năm 2007).[1]

Theo số liệu niên giám thống kê năm 2005, toàn tỉnh có 1.600.400 người, trong đó nam là (761.000 người) chiếm 48,7%, nữ là (801.400 người) chiếm: 51,3%. Dân số ở thành thị là (393.000 người) chiếm 25,2%, nông thôn là (1.169.400 người) chiếm 74,8%, mật độ dân số là 259,4 người/km2 và dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng (793.687 người) chiếm: 50,8% dân số toàn tỉnh. Ngoài dân tộc Kinh, còn có các dân tộc khác nhưng chủ yếu là Chăm, Ba Na và Hrê, bao gồm khoảng 2,5 vạn dân. Dân số tỉnh đang có xu hướng giảm cơ học, theo kết quả điều tra chính thức ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số tỉnh Bình Định chỉ còn 1.485.943 người.[3]

Biển số xe

  • Thành phố Quy Nhơn 77-L1 XXX.XX
  • Thị xã An Nhơn 77-F1 XXX.XX
  • Huyện An Lão 77-M1 XXX.XX
  • Huyện Hoài Ân 77-K1 XXX.XX
  • Huyện Hoài Nhơn 77-C1 XXX.XX
  • Huyện Phù Cát 77-E1 XXX.XX
  • Huyện Phù Mỹ 77-D1 XXX.XX
  • Huyện Tuy Phước 77-G1 XXX.XX
  • Huyện Tây Sơn 77-H1 XXX.XX
  • Huyện Vân Canh 77-B1 XXX.XX
  • Huyện Vĩnh Thạnh 77-N1 XXX.XX

Văn hóa

Bình Định là mảnh đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá Sa Huỳnh, từng là cố đô của vương quốc Chămpa mà di sản còn lưu giữ là thành Đồ Bàn và các tháp Chàm với nghệ thuật kiến trúc độc đáo. Đây cũng là nơi xuất phát phong trào nông dân khởi nghĩa vào thế kỷ 18 với tên tuổi của anh hùng áo vải Nguyễn Huệ; là quê hương của các danh nhân như Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân,Đào Tấn,Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ngô Mây, Tăng Bạt Hổ, Diệp Trường Phát... Bình Định còn nổi tiếng bởi truyền thống thượng võ và có nền văn hoá đa dạng phong phú với các loại hình nghệ thuật như bài chòi, hát bội, nhạc võ Tây Sơn, hò bá trạo của cư dân vùng biển... cùng với các lễ hội như: lễ hội Đống Đa, lễ hội cầu ngư, lễ hội của các dân tộc miền núi...

Thành phố Quy Nhơn có trường Đại học Quy Nhơn, Đại học Quang Trung (tư thục), Cao Đẳng Bình Định (trước kia là Cao Đẳng sư phạm Bình Định), Cao Đẳng Kỹ thuật, Cao đẳng Y tế Bình Định hàng năm đào tạo hàng ngàn sinh viên khoa học kỹ thuật cho tỉnh và khu vực miền trung Tây Nguyên.

Tuồng Bình Định

Bình Định là nơi có nghệ thuật tuồng rất phát triển gắn liền với tên tuổi của Đào Duy Từ (Hiện Nay đền thờ danh nhân Đào Duy Từ ở tại xã Hoài Thanh Tây huyện Hoài Nhơn, cách quốc lộ 1A 2 km), Đào Tấn. Các đoàn hát tuồng trong tỉnh được hình thành ở khắp các huyện. Với sự giao lưu của nghệ thuật tuồng và võ Bình Định đã đưa tuồng Bình Định lên một tầm cao mới khác lạ hơn so với các đoàn tuồng của Huế hay Nguyễn Hữu Dỉnh của Quảng Nam. Tuồng còn gọi là "hát bội" hay hát bộ sở dĩ nó có tên gọi như thế là vì ngoài việc hát thì yếu tố quan trọng góp phần tạo nên một vở tuồng hay và đặc sắc là hành động điệu bộ của các đào kép. Việc kết hợp võ thuật vào các màng nhào lộn, đánh trận ở mỗi đoàn có khác nhau tùy theo trình độ của đào kép. Trước kia khi hát bội còn thịnh hành thì có nhiều đoàn hát nhưng những năm gần đây dưới sự biến động của kinh tế thị trường thì nhiều đoàn dần giải tán, bộ môn văn hóa nghệ thuật dân tộc này có nguy cơ thất truyền. Lúc còn thịnh hành các đoàn hát bội thường được các làng, những gia chủ giàu có hay các lăng, đình ven biển mời về biểu diễn. Sau những màn diễn hay người cầm chầu ném tiền thưởng lên sân khấu. Vì thế mới có câu "Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu" thường thì sau đêm hát cuối cùng các đoàn hay hát màn "tôn vương" để chúc tụng gia chủ, làng xóm gặp nhiều may mắn và cuối màn "tôn vương" thì thường hát câu: "Rày mừng hải yến Hà Thanh - nhân dân an lạc thái bình âu ca" hay "ngũ sắc tường vân khai Bắc khuyết - nhất bôi thọ tửu chúc Nam san".

2. Những điểm hấp dẫn của Bình Định

a. Đặc sản

Ngoài các đặc sản về lâm, thổ, thuỷ, hải sản của duyên hải miền Trung nói chung, Bình Định còn nổi tiếng có:

- Rượu Bàu Đá (An Nhơn)

Cội nguồn rượu Bàu Đá


Ngày xửa ngày xưa, men theo hai bờ sông Kôn từ thượng nguồn xuôi về hạ bạn, có nhiều làng rượu ngon nổi tiếng, nhất là các làng: Vĩnh Phúc, Vĩnh Cửu, Tiên Thuận, Đồng Hào, Phú Lạc, Phú Mỹ, Vĩnh Lộc, An Vinh... Thuộc Tây Sơn hạ đạo, mà dân gian thường gọi là rượu Tây Sơn. Còn rượu Bàu Đá cái “Thương hiệu” của rượu Bình Định nổi danh trong Nam, ngoài Bắc ngày nay cũng chính là dòng rượu Tây Sơn, cùng thừa hưởng chung dòng nước ngọt ngào của ngọn nguồn sông Kôn được ủ lạnh, lọc trong từ những hộc đá ngầm ở Vực Bà, Nước Miên, Nước  Trinh, sông Kxôm, Hầm hô... ban tặng cho một dòng sông, một vùng đất; nhưng cái tên rượu Bàu Đá như một câu chuyện dân gian lại bắt đầu từ xóm “Tân Long”.

Xóm có tên gọi Tân Long, (thôn Cù Lâm, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định), xưa nay chuyên nghề làm ruộng, tại xóm Tân Long có một cái bàu rộng khoảng 3 sào của ông xã Lựu, trong bàu có nhiều hòn đá to do thiên nhiên sinh ra, hằng năm ông xã Lựu tổ chức một ngày giậy bàu vào mùa hè, xóm gần- làng xa mọi người về đây bắt cá đông vui, ai bắt bao nhiêu cá cũng được, ông xã Lựu chỉ lấy một con gọi là “xâu”, vì vậy đã trở thành ngày hội bắt cá định kỳ ở cái bàu có đá xóm Tân Long và được dân gian gọi là xóm Bàu Đá. Từ khi xóm Bàu Đá nấu rượu và phát triển kinh doanh nghề rượu người ta lấy tên xóm Bàu Đá đặt cho tên rượu gọi là “rượu Bàu Đá”. 

Xóm rượu Bàu Đá ra đời muộn mằn so với các làng, xóm rượu trong vùng, đó là những năm 1947 - 1948, một số hộ gia đình: Ông Đinh Lý, Tám Cộng, Mười Mẫu, Ba Trương... mời ông Hương Lễ Nghè một nghệ nhân nổi tiếng nghề nấu rượu ở làng An Vinh, xã Bình An, huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) tỉnh Bình Định sang dạy nghề nấu rượu, và cũng từ đây họ truyền nghề cho nhau, đến nay 40 hộ gia đình xóm Bàu Đá có đến 38 hộ chuyên nghề nấu rượu .

Hiện nay một số làng rượu truyền thống trong vùng Tây Sơn hạ đạo đã cải tiến nghề nấu rượu, miễn sao công ít, lợi nhiều. Đặc biệt ở cái xóm rượu Bàu Đá này vẫn giữ nguyên công thức cổ truyền mà ông Hương Lễ Nghè đã dạy, từ việc chọn gạo; kỹ thuật nấu cơm; họ không dùng các loại men bột công nghiệp ở TP Hồ Chí Minh như nhiều nơi dùng mà họ chọn loại men bánh dân gian, thường là men Trường Định (Bình Hòa), Bả Canh (Đập Đá). Tỷ lệ men và cơm, kỹ thuật ủ cơm rượu, đổ nước vào cơm rượu đã ủ phải lấy từ giếng bộng đất nung, hoặc giếng đá ong, không lấy nước giếng đất, giếng bêtông xi-măng. Họ không nấu nồi nhôm mà là nồi đồng, nắp đậy nồi bằng đất nung; cất rượu bằng ống tre… Từ đó đã cho ra loại rượu ngon có mùi thơm đặc  biệt và “Thương hiệu” rượu Bàu Đá đã thay cho rượu Tây Sơn xưa. Nhưng cả vùng Tây Sơn hạ đạo có chung nước sông Kôn, những xómlàng rượu nào giữ gìn nghề nấu rượu theo công thức cổ truyền thì cũng có thể gọi là rượu Bàu Đá.

Thưởng lãm rượu Bàu Đá cũng cầu kỳ lắm lắm; Rượu trong bầu, chai, nậm phải rót ra bình gọi là ve vòi, cái ve vòi đựng rượu có câu đố dân gian rằng:

Thượng tiểu, hạ đa (Trên nhỏ,dưới to)

Tích thủy, phi thủy (Đựng nước nhưng không phải nước)

Thọ thai, bất thọ thai (Chửa nhưng không phải chửa)


Rót rượu ra chén cũng có kiểu, có cách: Ve vòi giơ cao, rót dòng rượu nhỏ ra chén hạt mít sao cho có tiếng kêu róc rách, vun bọt nhưng rượu không được tràn ra miệng chén. Ngậm một ngụm rượu trong giây lát, uống xong ta thấy đọng lại vị ngọt thanh, mùi thơm khó tả…

Ai về Bình Định mà chưa được thưởng thức món chim mía Tây Sơn; chim se sẻ, nem chợ huyện Tuy Phước nhâm nhi với chén rượu Bàu Đá coi như chưa về Bình Định vậy. Người Bình Định đi xa, khách thập phương mọi miền khi tạm biệt Bình Định cũng có vài lít rượu Bàu Đá để làm quà.

Rượu Bàu Đá thường được dùng trong những ngày giỗ chạp, lễ nghi, hội hè, đình đám, nhất là những ngày Tết cổ truyền. Con cháu nội ngoại về mừng tuổi ông, bà có chén rượu Bàu Đá đặt lên bàn thờ thắp nén hương thành kính ta thấy ấm cúng thiêng liêng...

Rượu Bàu Đá” nét văn hóa đặc trưng của miền đất võ Tây Sơn, Bình Định

 

- Di tích,cá chua nước lợ (Đề Gi - Phù Cát)

 

Không ai biết cá chua có từ bao giờ, chỉ biết nó xuất hiện rất nhiều ở đầm Đề Gi (huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định). Cho đến nay, loại cá này vẫn chưa nhân giống được, chủ yếu sinh trưởng, phát triển hoàn toàn tự nhiên. Gần đây, phong trào nuôi cá chua ở ao hồ khá phát triển, bằng nguồn giống lấy từ đầm Đề Gi. Có một bộ phận dân cư quanh đầm chuyên đi bắt cá chua con về ươm một thời gian thì đem bán cá giống với giá từ 1.500 - 2.500 đồng/con.

Ở Bình Định, cá chua có quanh năm, nhưng chất lượng cá ngon nhất và độ mùa xuân - hạ, và độ tuổi chừng 4 - 5 tháng. Nhiều nhà hàng ở Quy Nhơn đều có đặc sản cá chua, nhưng thực khách nơi xa đến không dễ gì biết mà gọi nếu chủ quán... quên giới thiệu hoặc không có “thổ địa” đi cùng.

Loại cá chua thường sinh trưởng tốt ở môi trường nước sà hai (nước lợ) nên chất lượng thịt rất thơm ngon, càng nhai kỹ càng cảm nhận nhiều vị ngọt của miếng cá. “Tuổi đời” cá chua quyết định độ thơm ngon. Cá còn nhỏ thì chất thịt chưa ngon, nhưng da cá và phần đầu lại rất quyến rũ. Cá già khiến cho phần da hơi cứng, nhưng thịt thì săn chắc ngon hết chỗ chê. Anh Quyền, chủ hồ nuôi cá chua ở đầm Thị Nại (TP Quy Nhơn) bật mí: “Cá bắt vào ban đêm thì ăn trọn con, không bỏ bộ phận nào, kể cả phần ruột; bắt buổi ngày thì phải bỏ đi bộ lòng vì nó còn đọng nhiều tạp chất khiến hương vị cá khi chế biến có vị đắng”.

Cá chua được chế biến nhiều món: cá chua hấp, cá chua nấu lá giang, cá chua nấu mẳn (chỉ nấu với nước và hành, không phụ thêm gia vị), nhưng thú vị nhất là nướng lá chuối ăn kèm muối ớt tươi. Món nướng thì ít nơi làm vì độ công phu của nó, nhưng nếu có một người quen nuôi cá chua, cuối tuần ra bờ hồ câu vài con, đốt than lên nướng và thưởng thức, hầu như ai cũng sẽ phải thốt lên: “Chu cha, thiệt là ngon!”.

 - Bánh tráng nước dừa (Tam Quan): 

 

Bánh tráng thì nhiều nơi trên đất nước Việt Nam này có, như bánh tráng phơi sương Trảng Bàng - Tây Ninh, bánh tráng Hương Hồ - Huế, bánh tráng sữa Bến Tre,.Nhưng có một loại bánh tráng dân giã mà không ít người biết đến, đó là bánh tráng nước dừa Tam Quan - Bình Định.


Ngoài Bến Tre, Tam Quan nổi tiếng là nơi có nhiều dừa ở Việt Nam

Công đâu công uổng công thừa

Công đâu tát nước tưới dừa Tam Quan

Công đâu công uổng công hoang

Công đâu gánh nước Tam Quan tưới dừa.

Tam Quan là một thị trấn nhỏ ven biển thuộc Huyện Hoài Nhơn, Tỉnh Bình Định. Dừa ở đây mọc thành hàng ở những vùng đất ven biển, chủ yếu là giống dừa ta trái to và cơm dày, rất hợp để làm loại đặc sản bánh tráng nước dừa.

Ở Tam Quan có nhiều nghề thủ công như nghề làm bún số 8 (một loại bún khô làm ờ bột gạo được cuốn lại từng bó thành hình số 8, dạng như miến ở ngoài Bắc), nghề làm mè xửng, và đặt biệt là nghề có liên quan đến dừa: làm thảm xơ dừa và bánh tráng nước dừa. Nhưng khi nhắc đến địa danh Tam Quan thì người ta biết đến nghề làm bánh tráng nước dừa nhiều hơn bởi thứ đặc sản khá hấp dẫn này.

Gạo sau khi được xay ra đem trộn với nước cốt trái dừa, cho cả xát dừa đã được vắt lấy nước cốt vào nữa. Mè đã bóc sạch vỏ vào, thêm ít tiêu hột (tiêu đen chưa xay nhuyễn), cùng củ hành tím (xắt lát thật mỏng) và một thứ gia vị không thể thiếu làm nên vị đặc trưng cho bánh tráng Bình Định, đó là muối. Tất cả được trộn đều và đem đi tráng thành bánh. Bánh tráng nước dừa thường được tráng trên khuôn to (to bằng cả cái mẹt sảy gạo) và tráng thành lớp dày, có như vậy khi nướng lên, bánh mới phồng và giòn, ngon. Sau khi tráng, bánh được đem phơi dưới nắng, nếu có nhiều nắng thì chỉ cần một buổi chiều là bánh khô rồi.

 Phơi bánh tráng

 

Bánh tráng đã thành phẩm

Khi ăn, bánh tráng nước dừa được đem nướng dưới lửa than. Chiếc bánh gặp lửa, phồng lên và vàng ươm. Những lát hành thơm phứt, nhữang hạt mè vàng quyến rũ. Nhưng phải biết cách nướng thì bánh mới thơm ngon. Những ai không quen sẽ không biết cách nướng mà làm chiếc bánh trông lem nhem, chỗ cháy đen, chỗ chai cứng, không ăn được. Khi nướng phải lật bánh đều tay, tránh vừa nướng chỗ này, xong lại chừa một phần bánh (để lấy chỗ cầm, vì sợ nóng), và đem nướng chỗ khác. Khi quay lại nướng chỗ chừa kia thì chỗ đó sẽ bị chai và cứng. Tốt nhất là khi nướng bánh cần có một chiếc đũa để tay còn lại cầm cho đỡ nóng.

Chiếc bánh tráng thơm phức mùi hành phi và có mùi vị bùi béo của dừa và mè, mằn mặn của muối được các bà mẹ đem ra những ngày đông cho cả nhà nhâm nhi, vừa ăn vừa xem ti vi. Lúc đói bụng có thể ăn bánh cùng nước mắm gừng thì không gì tuyệt vời hơn.

Các chuyến xe hay tàu hỏa Bắc - Nam khi đi ngang qua huyện Hoài Nhơn đều dừng lại cho khách thập phương mua chiếc bánh tráng nước dừa làm quà. Bánh được cột thành từng ràng. Mỗi ràng mười chiếc, bán với giá khoảng dưới 20.000Đ. Tuy nhiên, để chắc chắn được ăn chiếc bánh ngon thì tốt nhất là nhờ người quen ở Hoài Nhơn mua giúp.

Thành Phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung rất đông người Bình Định vào lập nghiệp. Sau mỗi dịp lễ, Tết, ngang qua bến xe miền Đông, nếu bắt gặp những người ngoài hành lí còn mang theo vài chồng bánh tráng to và dày rất đặc trưng thì bạn biết rằng họ là người Hoài Nhơn - Bình Định đấy.

Chiếc bánh tráng nước dừa Tam Quan cùng với nem chợ Huyện An Nhơn, rượu Bầu Đá, bánh ít lá gai, và bún chả cá Quy Nhơn từ lâu đã trở thành những đặc sản nổi tiếng của vùng đất võ Bình Định. Những người con Hoài Nhơn xa quê khi được hỏi nhớ nhất điều gì ở quê hương chắc không quên nỗi nhớ bánh tráng nước dừa Tam Quan...

 - Bún Song Thằn và bánh hỏi

 

Bên cạnh truyền thống thượng võ, còn có một loại đặc sản góp phần đưa địa danh An Thái (Nhơn Phúc - An Nhơn) bay xa, đó là bún Song thằn. Sở dĩ có tên gọi "song thằn" vì khi làm bún, người ta thường bắt dây bún từng đôi một. Nhiều người đọc trại thành bún "song thần".

 

SẢN XUẤT BÚN SONG THẰN Ở AN THÁI.

 

Bún song thằn (làm thành từng tấm hình vuông mỗi cạnh 30cm, phơi khô) nổi tiếng vì có hương vị thơm ngon đặc biệt và có giá trị dinh dưỡng cao. Theo bà Lý Thị Hương - trên 70 tuổi, người duy nhất còn nắm bí quyết và còn sản xuất bún song thằn ở An Thái - thì trong cả nước chỉ có mỗi một An Thái là sản xuất được loại bún này. Tương truyền các vua triều Nguyễn triệu thợ bún An Thái ra kinh đô Huế làm bún Song thằn nhưng không thành công vì nước sông Hương khác với nước sông Côn (?). Có người cho rằng nghề này xuất phát từ những Hoa kiều sang sinh sống tại An Thái vào thế kỷ 18, nhưng theo bà Hương thì nghề này hoàn toàn của người Việt và rất ít người nắm được bí quyết của nghề. Bà học nghề từ người mẹ và mẹ bà học nghề từ bà ngoại (người Việt), cha bà (người Hoa) cưới mẹ bà cũng vì muốn học nghề làm bún Song thằn. Trước đây ở Quy Nhơn, Sài Gòn cũng có bún Song thằn với nhiều nhãn hiệu khác nhau, thực tế tất cả đều lấy hàng từ lò bún của bà Lý Thị Hương.

Bún Song thằn làm bằng đậu xanh, trung bình 5 kg đậu sau nhiều lần xay, đãi, lắng lọc thì được 1,2 kg bột và làm thành 1kg bún, bởi vậy giá thành rất cao nên không thông dụng. Hiện nay, nghề làm bún Song thằn ở An Thái còn được duy trì, nhưng lượng sản phẩm không bằng trước đây, người làng nghề đang tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, bao bì bắt mắt và tiếp thị, quảng bá sản phẩm.

Bây giờ bún Song thằn trở thành một loại đặc sản quý hiếm, là một loại quà biếu có giá trị thuộc hàng "món ngon vật lạ". Tiếc rằng nghề bún Song thằn đang bị mai một. Chính vì e ngại điều này nên bà Lý Thị Hương đang truyền lại nghề cho người con trai của bà. Giá mà ở ngay An Thái (hoặc Quy Nhơn) có một hiệu bún Song thằn, khách vào có thể thưởng thức tại chỗ một tô bún nấu với lòng gà và mua một vài kg làm quà giới thiệu đặc sản quê hương.

- Nem chả Chợ Huyện

 

 Ai về Vinh Thạnh quê em
Ăn nem chợ Huyện, đêm xem hát tuồng.

                                             (Ca dao)

Chợ Huyện thuộc huyện Tuy Phước, Bình Định. Đây là khu chợ buôn bán sầm uất nổi tiếng nhờ món nem. Cái hay của người Bình Định là hễ có hội là có hát tuồng, bất kỳ hội lớn hay nhỏ. Chính vì thế người dân nơi đây ngoài việc đi xem hát tuồng còn một thú nữa là thưởng thức các món ăn.

 

Với món ăn dân dã vừa ngon vừa rẻ, nem dần dần đi vào lòng người và trở thành một thương hiệu nổi tiếng: “Nem chợ Huyện”.
Nem được làm từ thịt heo, ngon nhất là thịt heo cỏ với những thớ thịt đỏ hỏn được tách mỡ cẩn thận đem rửa sạch, chờ ráo nước mới cho vào cối để quết. Muốn thịt được nhuyễn, dai, giòn người thợ phải quết liên tục, không có thời gian nghỉ tay lâu, mỏi tay đã có người khác thay.

Cứ như thế đến khi thịt “chín” mới thôi. Đôi bàn tay khéo léo của các mẹ, các chị và sự dẻo dai lực lưỡng của những chàng trai đã tạo nên món ăn đặc biệt. Bí quyết để món nem ngon, khác lạ với những món nem khác chính là nghề gia truyền của người làm nem, nằm chủ yếu trong khâu thêm gia vị với một tỉ lệ chính xác (đường, muối, hạt tiêu, bột ngọt, một ít da heo xắt nhuyễn cùng một số phụ gia khác…).

 


Nước chấm cũng là một phần không thể thiếu được, quyết định trực tiếp cái ngon của nem. Nước chấm pha càng khéo càng nâng hương vị lên, khiến người ăn luôn bị kích thích. Đó là một loại nước mắm nhỉ được pha loãng với tương ớt và tỏi vừa đủ cay, còn ai thích ăn cay đã có ớt trái. Loại nước chấm được nhiều người thích là nước mắm pha loãng với đậu phụng giã nhỏ thêm chút đường, ớt, tỏi, cay cay, ngọt ngọt mà đậm đà.
Có người lại cho rằng: “Ăn nem không mới có thể nhận biết được

 

tay nghề của từng người”. Tất cả vị ngọt của thịt, dai mà giòn của da, một chút cay cay của hạt tiêu, mằn mặn của muối… tạo nên món nem ngon tuyệt.
Tuy nhiên nem được cuốn với bánh tráng cùng rau mùi mới là món “đắm say lòng người”, người ta gọi món này là bánh cuốn, trong đó nem là món chủ đạo. Tuốt một xâu nem bỏ vào lòng bánh tráng, thêm chút rau, vài cuốn chả ram (chả giòn), rồi quấn chặt lại, lúc 

này tô nước chấm mới quyết định người ăn ghiền đến mức nào. Càng ăn càng ghiền.
Đó là nem tươi ăn liền, ngoài ra còn có nem chua. Đây là món sử dụng lâu ngày hơn và thường dùng làm quà biếu, được bày bán nhiều ở các cửa hàng tại chợ Huyện. Chúng cũng được chế biến tương tự như nem tươi, chỉ khác biệt là chất xúc tác cho chúng chua lên. Nem được gói bằng lá vông hoặc lá ổi, bên ngoài bọc lá chuối, sau 2-3 ngày nem chua lên và dùng được. Người dân ở đây còn gọi món nem chua là “dưa cay”, thường ăn chung với tỏi.

,bánh ít lá gai. Ngày nay ở huyện Hoài Nhơn còn có thêm đặc sản Cá Ngừ Đại Dương dân địa phương gọi là cá "Bò Gù"

  1. Thành Hoàng Đế

Thành Hoàng Đế là kinh đô của triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam từ năm 1776 tới năm 1793

Lịch sử

Năm 1776, sau khi đánh bại chúa Nguyễn. Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế nhà Tây Sơn và cho xây dựng kinh đô tại vị trí cũ của thànhĐồ Bàn vương quốc Chăm Pa, đây là nơi của Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc ở nên gọi là thành Hoàng Đế

Khi xây dựng trên nền cũ của kinh đô Đồ Bàn xưa, qua hơn 300 năm bỏ hoang nên các dấu tích còn lại của thành Đồ Bàn không còn nhiều, chỉ còn sót lại đôi sư tử đá của các vua Chăm Pa mà Nguyễn Nhạc tiếp tục sử dụng trang điểm cho tử cấm thành của mình

Từ năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế đặt kinh đô tại Phú Xuân, kinh đô Hoàng Đế chỉ còn trên danh nghĩa. Năm 1793, vuaCảnh Thịnh tiến chiếm thành Hoàng Đế. Năm 1801 thành Hoàng Đế đã thuộc về Nguyễn Ánh do tướng Võ Tánh đóng quân sau khi chiếm được thành từ quân Tây Sơn,

Sau khi chiếm được thành Hoàng Đế, Nguyễn Ánh đã đổi tên là thành Bình Định. Tới năm 1814 ông cho chuyển thủ phủ từ thành Hoàng Đế về vị trí là thành Bình Định sau này, nằm cách thành hoàng đế khoảng 5km về hướng đông nam làm thủ phủ trị sự của vùng Quy Nhơn-Bình Định

Đặc điểm

Thành Hoàng Đế nằm trên nền cũ của kinh đô Đồ Bàn của Chăm Pa xưa, ngày nay thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn, Bình Định. Nằm cách thành phố Quy Nhơn hiện nay khoảng 20 km theo hướng tây bắc, thành nằm trên một vùng gò đồi so với xung quanh là đồng bằng

Về cấu trúc thành Hoàng Đế do Nguyễn Nhạc xây dựng gồm có 3 lớp: vòng ngoài là thành ngoại có chu vi khoảng 7km, tiếp đó là vòng trong gọi là thành nội có chu vi khoảng 1,6km và trong cùng là tử cấm thành có chu vi khoảng 700m, tường thành cao khoảng 3m[1]

Sau khi chiếm được thành Hoàng Đế, 12 năm sau do việc chuyển thủ phủ về thành Bình Định, vua Gia Long đã cho phá phần lớn, lấy vật liệu về xây dựng tại thành mới. Ngày nay chỉ còn lại một số di tích của tử cấm thành gồm có: cổng chính, chính điện, hồ bán nguyệt,…[2]

Thành Thị Nại

Thành Thị Nại , còn có tên gọi khác là thành Bình LâmSri Banoy là một thành cổ nằm ở bên bờ Đầm Thị Nại, đóng vai trò là tiền đồn trấn giữ cho kinh đô Đồ Bàn của vương quốc Chăm Pa.

Vị trí

Dựa theo các thư tịch cổ và các khảo cổ được phát hiện, Thành Thị Nại là tòa thành nằm trên địa bàn thuộc các thôn: Bình Lâm, Bình Nga Đông, Bình Nga Tây và Bình Trung, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước. Di tích còn lại cho thấy thành được xây dựng trên một dồi đất cao nằm kẹp giữa hai phân lưu phía hạ nguồn của sông Côn là sông Cầu Đun và sông Gò Tháp, phía bắc là sông Đập Đá[1].

Đặc điểm

Thành có cấu trúc hình chữ nhật, chiều dài chạy theo hướng Đông-Tây dài được 1.300m, chiều rộng hơn 600m. Phía bắc là đoạn sông Gò Tháp làm thành hào tự nhiên, vết tích còn lại là một dải gạch đổ dài trên 200m, trên đó còn một đoạn tường khá nguyên vẹn. Tường thành phía Nam chạy dọc theo sông Cầu Đun. Dấu vết còn lại là một dải đất cao có bề mặt rộng tới 15-20m[1]

Theo Nguyên sử ghi chép lại thì vào thế kỷ 13 khi đạo quân Toa Đô tiến vào đây, thành được làm bằng gỗ.

Theo ghi chép của Mã Đoan một thông ngôn của Trịnh Hòa (nhà Minh, Trung Quốc) đến Vijaya vào đầu thế kỷ 15 - khoảng năm 1413 được thể hiện trong cuốn sách sau này của ông là Ying-yai Sheng-lan - Doanh Nhai Thắng Lãm, thì thành Thị Nại thời kỳ này được miêu tả:

Ở về phía đông bắc tính từ kinh đô, có một hải cảng mang tên Tân Châu Cảng. Trên bờ họ có dựng một tháp cao bằng đá tạo thành một thắng tích. Tàu thuyền mọi nơi đến đây [với mục đích] thả neo và ra khơi. Trên bờ có một đồn, được gọi bởi các ngoại nhân là She pi-nai (Sri Banoy), họ có hai thủ lĩnh phụ trách đồn này, [và] bên trong [đồn] có khoảng năm mươi hay sáu mươi gia đình ngoại nhân sinh sống, để bảo vệ cho bến tàu.

Vai trò trong lịch sử

Thành Thị Nại với vị trí là tiền đồn bảo vệ cho kinh đô Đồ Bàn của Cham Pa, nên các trận đánh từ bên ngoài vào thường bắt đầu ở đây. Trận đầu tiên được sử sách nói tới là trận đánh với quân Nguyên-Mông do Toa Đô chỉ huy, trước sức mạnh của quân Nguyên Mông, thành bị hạ vàngười Chăm đã rút lui về kinh đô Đồ Bàn.

Trận đánh kế tiếp trong lịch sử được nhắc đến là trận chiến với Đại Việt thời vua Trần Duệ Tôngvà sau này là vua Lê Thánh Tông. Trong trận đánh với vua Trần Duệ Tông, người Chiêm đã giành thắng lợi tại đây, tuy nhiên đến trận đánh với vua Lê Thánh Tông vào năm 1471 sau này thị thành Thị Nại bị hạ, và cùng với kinh đô Đồ Bàn thành Thị Nại cũng chấm dứt sự tồn tại của mình sau khi Đại Việt chiến thắng.

Tháp Bình Lâm

Tháp Bình Lâm là một ngôi tháp cổ Chăm Pa tại thôn Bình Lâm, xã Phước Hoà, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định

Đây là một ngôi tháp tương đối đặc biệt ở Bình Định, vì khác với các tháp khác nằm trên đồi thì tháp Bình Lâm nằm ngay trên đồng bằng và như hoà mình vào thiên nhiên và khu dân cư bao quanh

Hiện trạng

Tháp cao đồ sộ, khoảng 20m, tuy đã bị huỷ hoại các chi tiết phía trên khá nhiều bởi thời gian, nhưng tổng thể ngôi tháp vẫn ánh lên qua màu gạch vàng một vẻ đẹp trang nhã và thành kính Tháp có 3 tầng, bình đồ vuông, thân tháp không lùn, không nặng nề, cân đối với hai tấng phía trên. Hai tầng phía trên cũng được thu nhỏ dần một cách đều đặn

Kiến trúc

Như các tháp Champa khác, một trong những yếu tố trang trí kiến trúc đặc biệt nhất và cũng đẹp nhất ở Bình Lâm là các cửa giả nhô ra ở khoảng giữa các mặt tường của thân tháp. Thế nhưng, mặc dầu vẫn làm theo cấu trúc truyền thống, các cửa giả ở Bình Lâm lại hiện ra, dưới một bức tranh điêu khắc, như một ngôi tháp đầy kỳ ảo. Mỗi cửa giả là một cấu trúc ba thân kế tiếp nhau nhỏ dần từ trong ra ngoài. Mỗi thân đều có hai phần: hai cột ốp bên dưới và hòm hình mũi giáo bên trên. Cả ba thân cửa cửa giả đều như mọc lên từ một nền vuông chung phía dưới được trang trí bằng các hình sư tử, hoa lá và các hình áp

Ngoài các cửa giả như mọi tháp Chăm khác, mặt tường bên ngoài của tháp Bình Lâm cũng được trang trí bằng hệ thống các cột ốp, nhưng có điểm khác biệt là đường rãnh ở cột ốp không tách cột ốp thành một đôi cột đứng song đôi, không còn hoa văn phủ kín bề mặt cột ốp và vòng đai bao quanh khung trang trí nằm giữa các cột ốp. Do đó, về mặt nào đó, nếu đem so với các tháp Chăm thuộc phong cách Mỹ Sơn A1, tháp Bình Lâm không duyên dáng, thanh tú và rực rỡ bằng. Thế nhưng, chính việc mất đi các hoa văn trang trí trên mặt tường lại làm tăng độ khỏe và chắc cho các thành phần kiến trúc và góp phần làm nổi bật nhưng hình tượng điêu khắc chính. Có thể nói Bình Lâm là sự kết hợp hài hòa và thành công giữa kết cấu kiến trúc và yếu tố trang trí kiến trúc

Lịch sử

Tháp Bình Lâm được xây dựng vào cuối thế kỷ 10 – đầu thế kỷ 11, thuộc phong cách chuyển tiếp giữa phong cách Mỹ Sơn A1 và phong cách Bình Định, theo nghiên cứu, tháp Bình Lâm nằm trong khu thành Bình Lâm là kinh đô đầu tiên tạm thời khi các vị vua Chăm dời đô từ Quảng Nam vào Bình Định trước khi xây dựng kinh đô Đồ Bàn, khi thành Đồ Bàn được xây dựng thì thì Bình Lâm mất vị trí là trung tâm chính trị, hành chính của Chăm Pa

 

  1. Tháp Bánh Ít

Tháp Bánh Ít còn có tên gọi là tháp Bạc là một cụm các tháp cổ Chăm Pa, hiện nay nằm trên một ngọn đồi tại thôn Đại Lộc, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Kiến trúc tháp thuộc phong cách chuyển tiếp từ phong cách Mỹ Sơn A1 sang phong cách Bình Định

Hiện trạng

Hiện ở cụm tháp Bánh Ít có tháp chính, tháp mái và tháp cổng. Đường lên cụm tháp ở phía đông mà bắt đầu là tháp cổng, đằng sau tháp cổng là các tầng, các lớp những phế tích đổ nát, chếch về hướng đông - nam có một tháp gạch lớn như tháp cổng. Tháp cổng va tháp đông - nam này là hai kiến trúc hiện còn ở vòng ngoài hay tầng ngoài cùng của khu tháp Bánh Ít

Ngay đằng sau tháp cổng, trên nền tầng thứ nhất hiện còn dấu tích của một toà nhà chạy dọc theo hướng đông - tây và đối diện với ngọn tháp chính bên trên

Sau toà nhà dài là một lối tam cấp rất dốc dẫn lên tầng kiến trúc bên trên và tới một con đường đi thẳng tới ngôi tháp chính, hiện nay ở tầng trên cùng của quả đồi chỉ còn lại hai kiến trúc gạch đó là tháp thờ trung tâm và toà tháp mái cong hình yên ngựa ở phía nam. Bao quanh khu kiến trúc trên cùng này là một vòng đai đường mà giờ chỉ còn lại dấu tích của những ổ gạch

Kiến trúc

Nếu đem từng kiến trúc ra để so sánh thì từng ngôi tháp của Bánh Ít không phải là lớn, nhưng tháp Bánh Ít không phải chỉ từng ngôi tháp mà còn là các lớp kiến trúc, là cả quả đồi tự nhiên cao gần 100 mét, vì thế tuy từng kiến trúc không lớn lắm nhưng tổng thể kiến trúc Bánh Ít khá đồ sộ và hùng vĩ

Ngôi tháp chính có vẻ đường bệ và hoành tráng của các kiến trúc: các cột ốp, các đường gồ nhô ra dọc các mặt tường, các của vòm và của giả hình mũi lao nhọn đồ sộ, có những nét thanh tú của đường nét, những nét hoa là trên các diềm mái, những cảnh ca múa trên các mặt vòm các cửa giả làm cả khối kiến trúc như đang tiếp xúc với người xem

Sang ngôi tháp mái cong hình yên ngựa ở phía nam tháp chính, gồm những hình người, hìng thú, hình chim ở dưới chân tháp đang ưỡn người, khuỳnh chân, dùng hai tay như nâng bổng cả toà tháp lên, mái tháp cong hình yên ngựa như xoè cánh bay, trên mặt tường của kiến trúc, các nghệ sĩ Chăm xưa đã tô điểm bằng những băng, những ô hình hoa lá

Xuống tầng kiến trúc phía dưới, tháp cổng có hình dáng và cấu trúc giống như tháp chính, nhưng nhỏ hơn, ít các chi tiết trang trí hơn, còn ngôi tháp đông - nam có những hình quả bầu lọ trên các tầng với các khối cong nhịp nhàng đã che khuất và làm mềm đi những đường nét và hình khối kỷ hà cứng cỏi, khô khan và nhờ vậy toà kiến trúc dịu hơn, có nhịp điệu hơn

Mặc dù mỗi kiến trúc ở Bánh Ít có một dáng vẻ riêng, nhưng tất cả chúng đều có những nét chung, đặc trung cho cả quần thể, đó là sự thắng thế của tính hoành tráng và ngôn ngữ của khối lớn

Lịch sử

Tháp được xây dựng vào khoảng thế kỷ 10, trong giai đoạn phong cách chuyển tiếp từ phong cách Mỹ Sơn A1 và phong cách Bình Định

  1. Tháp Cánh Tiên

Tháp Cánh Tiên còn có tên gọi là tháp Đồng là một ngôi tháp nằm ở chính giữa thành Đồ Bàn xưa, nay thuộc xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định

Hiện trạng

Tháp Cánh Tiên hiện nằm trên đỉnh một quả đồi thấp thuộc thôn Nam Tân, xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn. Trong số những tháp cổ Chăm Pa còn lại ở tỉnh Bình Định, tháp Cánh Tiên không chỉ là một trong những kiến trúc còn khá nguyên vẹn, mà còn thuộc nhóm những cụm tháp ít thấy trong lịch sử kiến trúc Chăm Pa là khu đền chỉ có một tháp, mặc dầu chỉ có một tháp đơn lẻ song hình dáng, cấu trúc của tháp Cánh Tiên lại không hề khác với các ngôi tháp vuông nhiều tầng xây bằng gạch vào loại lớn của Chăp Pa, tháp cao gần 20 mét

Kiến trúc

Tháp Cánh Tiên là một trong những ngôi tháp thuộc phong cách Bình Định, hiện lên với một kiến trúc hoành tráng với những khối hình lớn gây ấn tượng từ xa: các cột ốp, những khung dọc trên mặt tường nằm giữa các cột ốp nổi lên thành những mảng lớn khoẻ khoắn, các vòm của các cửa giả vút cao vương lên như hình những mũi giáo khổng lồ, các tháp trang trí góc các tầng cuộn lại thành những khối chắc nịch, những phiến đá trang trí các góc tường phía trên của các tầng hình hoa lá nhô mạnh ra như những cánh tiên

Như mọi ngôi tháp truyền thống khác, tháp cấu trúc gồm hai phần: tiền sảnh và điện thờ, hiện nay toàn bộ cấu trúc của tiền sảnh đã bị sụt lở từ lâu, các mặt tường phía ngoài của thân tháp được trang trí bằng những cột ốp và các khung dọc nhô mạnh ra khỏi mặt tường, một trong những điều kỳ lạ nhất ở tháp Cánh Tiên là nữa phần phía ngoài của cột ốp góc tường được ốp kín bằng những phiến đá sa thạch màu tín có chạm khắc hoa dây xoắn và góc các diềm mái của tháp cũng được làm bằng đá - hiện tượng độc nhất trong lịch sử kiến trúc tháp Chăm Pa

Hiện nay tuy đã hư hại một phần, song vẫn có thể nhận ra cấu trúc và hình tháp khá đặc biệt của các cửa giả của tháp Cánh Tiên, mỗi cửa giả đều có ba tầng thu nhỏ dần về phía trên và mỗi tầng đều có hai thân, các tầng của cửa giả đều có cấu trúc hai phần: hai trụ ốp tạo thành ô khám bên dưới và hình cung nhọn bên trên

Tại bốn góc của mỗi tầng của tháp Cánh Tiên, các tháp trang trí góc và phiến đá hình đuôi phượng nhô ra ở đỉnh các cột ốp tường còn giữ lại khá nguyên vẹn, nên từ xa nhìn vào tháp Cánh Tiên trông như một ngọn đuốc khổng lồ đang lung linh toả sáng

Lịch sử

Tháp được xây dựng vào thế kỷ 12, thuộc phong cách Bình Định và có một phần ảnh hưởng từ kiến trúc Angkor Vat của người Khmer do thời kỳ này có sự giao lưu thường xuyên giữa vương quốc Khmer và Chăm Pa

  1. Tháp Đôi

Tháp Đôi hay còn có tên là Tháp Hưng Thạnh là khu tháp của Chăm Pa gồm có hai tháp là tháp phía bắc và tháp phía nam cạnh nhau hiện nằm ở phường Đống Đa,thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

Hiện trạng

Tháp được các chuyên gia trùng tu lại vào những năm 1990, đã trả lại cho ngôi tháp hình dáng gần như xưa. Cả hai ngôi tháp nằm trên khu đất bằng phẳng dưới chân một quả đồi và đều quay mặt về hướng đông, tuy có cùng hình dáng và cấu trúc là than hình khối vuông và mái hình tháp mặt cong nhưng ngôi tháp phía bắc cao hơn tháp phía nam

Theo truyền thống các cụm tháp Chăm Pa cổ thường có ba tháp, nhưng hiện tại chỉ có hai tháp, theo các nhà nghiên cứu, ngôi tháp thứ ba chuẩn bị xây dựng thì có nguyên nhân chưa biết được làm cho việc xây dựng tháp thứ ba bị gián đoạn

Trong hai ngôi tháp hiện còn của Tháp Đôi, ngôi tháp phía bắc không chỉ cao hơn, lớn hơn mà còn ít bị hư hại hơn, cửa ra vào phía đông tháp bị đổ nát từ lâu, chỉ còn cái khung cửa hình chữ nhật tạo bởi bốn thanh đá lớn là còn lại. Ngôi tháp phía nam có hình dáng, cấu trúc và trang trí giống như ngôi tháp phía bắc nhưng nhỏ hơn và thấp hơn một chút, toàn bộ phần chân tường của ngôi tháp đã bị đổ nát nặng nề, đến nỗi khó có thể nhận ra hình dáng lúc đầu của cấu trúc này như thế nào, hiện nay cả hai ngôi tháp đều đã mất chóp

Kiến trúc


Cả hai ngôi tháp ở Tháp Đôi đều không phải là tháp vuông nhiều tầng truyền thống của Chăm Pa, mà là một cấu trúc gồm hai phần chính: khối than vuông vức, và phần đỉnh hình tháp mặt cong, vì vậy nhìn qua các ngôi tháp Đôi có dáng vẻ của những đền thờ Khmer thời Angkor Vat, theo các nhà nghiên cứu những hình chim thần Garuda bằng đá với hai tay đưa cao, trang trí các góc tháp, là những sản phẩm chịu ảnh hưởng mạnh của nghệ thuật Khmer thế kỷ 12-13, thế nhưng toàn bộ phần dưới và phần thân của tháp Hưng Thạnh vẫn giữ nguyên hình dáng, cấu trúc và kiểu trang trí đặc trưng của những ngôi tháp Chăm truyền thống: khối thân hình vuông, mặt tường bên ngoài được trang trí bằng cửa giả, các cột ốp và các mặt nổi nằm ở giữa các cột ốp, ở các tháp Hưng Thạnh, vòm bên trên các cửa giả vút cao lên thành những mũi lao, các cột ốp trơn nhẵn

Ngôi tháp phía bắc, toàn bộ chân tường của tháp được bó bằng những tảng đá cát lớn thể hiện một đài sen khổng lồ đỡ toàn bộ tháp, giữa các cánh sen là những hình voi, sư tử và những hình người múa, như các tháp Chăm truyền thống khác, đầu tường phía trên tháp Bắc cũng nhô ra để tạo thành bộ diềm mái lớn, thế nhưng do ảnh hưởng của nghệ thuật Khmer, bộ diềm của tháp được làm bằng đá và được trang trí bằng hình các con khỉ đang múa, hình các con vật tạp chủng mình sư tử, đầu voi và những hình người ngồi có sáu và tám tay. Bốn góc của bộ diềm mái là bốn thần điểu Garuda bằng đá khổng lồ được tạc theo mô hình và phong cách nghệ thuật Khmer thời Angkor Vat

Ở ngôi tháp phía nam, mặc dù bị hư hại nhiều hơn so với tháp bắc, nhưng một vài tảng đá nằm tại chỗ đã chứng tỏ xưa kia ngôi tháp nam cũng có hệ thống chân tường bằng đá tương tự tháp bắc, dù bị hư hại nhiều hơn song các vòm cửa giả, các hình trang trí trên các tầng trên đỉnh hình tháp cũng tương tự như tháp bắc

Lịch sử

Tháp Đôi có niên đại vào khoảng cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13 trong giai đoạn phong cách Bình Định. Đây cũng là thời kỳ có sự giao lưu thường xuyên giữa Chăm Pa và vương quốc Khmer nên các nghệ thuật kiến trúc – điêu khắc Angkor có ảnh hưởng ít nhiều vào kiến trúc điêu khắc của tháp

  1. Tháp Thủ Thiện

Tháp Thủ Thiện là một ngôi tháp cổ Chăm Pa hiện nằm tại làng Thủ Thiện, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

Hiện trạng

Không như một số cụm tháp Chăm Pa khác, tháp Thủ Thiện là di tích chỉ có một ngôi tháp. Trước năm 1985, trên đỉnh tháp Thủ Thiện bị một cây đa đồ sộ mọc trên đỉnh tháp phủ kín, vào những năm 1980 cả ngôi tháp Thủ Thiệm như biến thành một gốc cây đa cổ thụ, không ai dám chặt cây đa này vì cả tháp và cây đều như đã trở thành linh thiêng, điều cũng tương tự với các tháp khác có cây mọc trên

Tuy nhiên trận bão năm 1985 đổ bộ vào tỉnh Bình Định đã thổi bay cây đa khổng lồ khỏi đỉnh tháp, nhưng rất kỳ lạ là cây đa đổ xuống mà không hề làm hư hại lớn cho tòa tháp cổ này

Kiến trúc

Như các ngôi tháp Chăm truyền thống khác, tháp Thủ Thiệm là một kiến trúc tháp tầng vuông gồm thân và ba tầng phía trên mô phỏng than tháp nhưng nhỏ hơn. Trên các mặt tường phía ngoài của than và các tầng tháp được tô điểm bằng các hình tháp nhỏ, đầu cùng các cột ốp góc tường có những hình điêu khắc đá nhô ra, tuy nhiên ở tháp Thủ Thiệm các cột ốp trơn, phẳng và không có hoa văn trang trí, các ô dọc trên tường nằm giữa các cột không những không được chạm khắc hoa văn mà còn biến thành một gờ nổi lớn nhô ra mạnh

Các cửa giả ở giữa ba mặt tường tây, nam, bắc và cửa ra vào phía đông đều có hình cung nhọn lớn như mũi giáo khổng lồ phía trên, đầu các cột ốp hợp thành bộ diềm mái nhô ra mạnh, các tháp nhỏ ở góc các tầng mái không còn là một ngôi tháp thu nhỏ nữa mà biến thành một khố hình chóp nhiều tầng

Lịch sử

Tháp có niên đại xây dựng vào khoảng thế kỷ 11 trong thời kỳ chuyển tiếp giữa phong cách Mỹ Sơn A1 và phong cách Bình Định nhưng đậm nét phong cách Bình Định nhiều hơn

  1. Tháp Dương Long

Tháp Dương Long là cụm di tích gồm ba tháp Chăm thẳng hàng trên một gò cao thuộc huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định.

Tháp Dương Long được xây dựng vào cuối thế kỷ 12. Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nền văn hóa Chăm Pa. Cụm tháp này gồm ba tháp: Tháp giữa cao 24 mét, hai tháp bên cao 22 mét. Phần thân của các tháp xây bằng gạch, các góc được ghép bởi những tảng đá lớn chạm trổ công phu. Tính quy mô của tháp Dương Long được thể hiện không chỉ ở chiều cao của nó (cao nhất trong các tháp Chăm còn lại ở Việt Nam) mà còn ở lối kiến trúc độc đáo, đặc biệt là các hoa văn, hoạ tiết được khắc tạc trực tiếp trên những tảng đá đồ sộ đặt ngay trên đỉnh tháp. Dương Long nằm bên cạnh một khu thành dân sự - thành Phú Phong, mặc dù đã trở thành phế tích. Ngoài các tháp, trong khu vực chính dường như còn có một tòa nhà dài ở phía nam mà nay chỉ còn là một đống gạch vụn.

Người Pháp gọi tháp này là Tour d’ Ivoire (Tháp Ngà).

Tháp đã nhiều lần bị phá hoại bởi những nhóm người đi tìm vàng, một số hộ dân quanh đấy cũng đã lấy gạch của tháp về xây nhà trong quá khứ.

  1. Tháp Phú Lốc

Tháp Phú Lốc còn có tên gọi là tháp Thốc Lốctháp Phốc Lốc, hay tháp Vàng(Tour d'Or) như những nhà nghiên cứu người Pháp đã gọi[1][2] là một ngôi tháp Chăm Pa cổ hiện còn tồn tại tại làng Phú Thành, Phường Nhơn Thành, Thị xã An Nhơn, tỉnhBình Định. [3]

Đây là một ngôi tháp thuộc phong cách Bình Định, nhưng đồng thời phong cách kiến trúc có ảnh hưởng một phần từ kiến trúc Angkor của người Khmer

Hiện trạng

Như hầu hết các ngôi tháp Chăm khác, tháp Phú Lốc được xây dựng trên một đỉnh đồi, so với mặt nước biển thì đỉnh đồi này có độ cao là 76 m.[4] Đồi của tháp Phú Lốc cao hơn tất cả các đồi có tháp ở Bình Định, vì thế tháp Phú Lốc nổi bật lên giữa vùng đồng bằng tỉnh Bình Định như một ngọn hải đăng khổng lồ.

Ngôi tháp này hiện đã bị hư hại nặng, tầng nền bằng đá cao và cả phần nền sảnh ở phía đông đã bị đổ nát hết, tuy nhiên phần tháp chính vẫn hiện rõ.

Kiến trúc

Như các tháp mang phong cách Bình Định, các cột ốp, đặc biệt là các cột ốp ở góc, các ô dọc giữa các cột ốp nhô mạnh ra và hoàn toàn để trơn. Các cửa giả đều co ba thân và ba tầng như ở các tháp Cánh Tiên và tháp Thủ Thiện. Phần trên các tầng của các cửa giả là vòm cung nhọn khá dài trong như hình mũi giáo, cả hai tầng còn lại phía trên của tháp đều cùng lặp lại kiểu dáng và bố cục của phần thân

Điểm mới của tháp Phú Lốc cũng như các tháp Chăm mang phong cách Bình Định là dùng đá để làm các bộ phận trang trí kiến trúc - một trong những ảnh hưởng của Khmer. Ở tháp Phước Lộc, đá được dùng làm các hình áp chân các cột ốp, và làm diềm mái cho thân và các tầng của tháp. Kiến trúc tháp Phú Lốc có nhiều điêu khắc đá, theo nghiên cứu thì tháp thờ thần Siva

Lịch sử

Tháp Phú Lộc, được xây dựng vào đầu thế kỷ 12,[5] mang phong cách Bình Định. Đây là thời kỳ luôn có sự giao tranh thường xuyên giữa Chăm Pa và vương quốc Khmer, có nghiên cứu cho biết tháp này được xây dựng trong thời kỳ quân đội Khmer đang chiếm đóng kinh đô Vijaya, Bình Định bởi vị vua người Chăm là Vidyanandana do người Khmer dựng nên, vì thế kiến trúc và nghệ thuật Angkor ảnh hưởng rất nhiều trong việc xây dựng tháp này

  1. Chùa Linh Phong

Linh Phong Thiền Tự còn gọi là chùa Ông Núi, là một ngôi cổ tự danh tiếng ở Bình Định, Việt Nam.

Nơi tọa lạc

Trên sườn phía Đông Nam núi Bà, cách thành Trà Bàn (Đồ Bàn) hơn 30 dặm; nay thuộc địa phận thôn Phương Phi (xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định), trước đây có một ngôi chùa cổ có tên là Linh Phong Thiền Tự.

Đây là một danh lam thắng cảnh của tỉnh, sách Đại Nam nhất thống chí chép:

Chùa Linh Phong ở thôn Phương Phi, huyện Phù Cát, lưng dựa vào núi cao (núi Bà), mặt trông ra đầm Biển cạn (tức đầm Thị Nại), xung quanh có nước suối lượn quanh phong cảnh thật đẹp[1].

Sách Đại Nam dư địa chi ước biên chép:

Chùa Linh Phong ở thôn Phương Phi, huyện Phù Cát, lưng dựa núi cao, nhìn ra đầm Hạc Hải (tức đầm Thị Nại), hoa cỏ đẹp tươi. Nên có câu: "Mây lành khắp chốn, chùa Linh Phong bao bọc hoa tươi", và có câu đối (bằng chữ Hán) dịch ra như sau:
Bờ biển dấy duyên lành, mưa móc khắp trời nhuần đẹp đất;
Linh Phong ngưng khí tốt, mây lành mọi chốn phủ nhân gian[2].

Lịch sử

Tương truyền vào năm Nhâm Ngọ (1702) đời chúa Nguyễn Phúc Chu, có một nhà sư Trung Quốc, tên tục là Lê Ban (?) đến hang đá phía đông núi Bà để ẩn tu [3]. Sau nhà sư mới đến lưng chừng núi "phát gai dại, vác đá to xây chỗ này, lấp chỗ kia, kết cỏ làm tranh, dựng lên am nhỏ, đặt tên là chùa Dũng Tuyền"[4].

Năm Quí Sửu (1733), chúa Nguyễn Phúc Chú vì mộ đức nhà sư nên ban hiệu là Tịnh Giác Thiện Trì Đại Lão Thiền Sư, và lệnh xây cất lại Dũng Tuyền tự thành một ngôi chùa lớn lợp ngói, đặt tên là Linh Phong Thiền Tự.

Theo "Linh Phong tự ký" của danh thần Đào Tấn, thì thiền sư viên tịch "trong thời loạn lạc" (ám chỉ thời Tây Sơn). Sau đó, các đồ chúng lập tháp thờ ở bên phải chùa vào năm Thái Đức (niên hiệu của Nguyễn Nhạc) thứ 8 (1785).

Đến năm Gia Long thứ 7 (1808), nghe lời Thánh mẫu là Hoàng hậu Hiếu Khương, nhà vua ban lệnh không cho ai được xâm phạm hay lấy các vật dụng ở chùa trong khi chờ đợi trùng tu. Tuy nhiên, mãi đến đời Minh Mạng, chùa Linh Phong mới được sửa sang lớn. Sửnhà Nguyễn kể: "một hôm nhà vua bị bệnh, vừa chợp mắt thì mộng thấy một vị sư già mặc áo vỏ cây đứng bên giường hầu quạt, đến sáng thì khỏi bệnh. Khi ngự triều, nhà vua đem chuyện ấy hỏi các quan, có người tâu rằng vị sư già đó có lẽ là Linh Phong thiền sư ở chùa Linh Phong ngày xưa". Vì vậy, năm 1826, nhà vua ban cho chùa này một chiếc áo cà sa mới may để thờ, đồng thời cho lấy 120 lượng bạc ở trong kho để trùng tu lại chùa [5].

Đến năm 1884-1885, dưới triều Kiến Phúc và Hàm Nghi, đại thần Đào Tấn "bỏ quan về Nam, ẩn giấu tích ở chùa Linh Phong để lánh loạn"[6].

Năm 1895, Đào Tấn được bổ làm Thượng thư bộ Công ”[7]. vì muốn sửa sang ngôi cổ tự, nên ông đem việc ấy tâu lên Tây cung (chỉ mẹ vua Thành Thái). Nghe lời mẹ, vua Thành Thái bèn giao cho tỉnh thần 70 lạng bạc lo việc trùng tu chùa, đồng thời sai hiểu dụ dân trong tỉnh quyên góp thêm, đến tháng 8 (âm lịch) năm Đinh Dậu (1897) thì hoàn tất, và quang cảnh chùa lúc bấy giờ rất đẹp [7].

Sau đó trải qua thời gian và chiến tranh, ngôi cổ tự trên chỉ còn lại cổng tam quan ở mặt đông và một bửu tháp. Năm 2004, một ngôi chùa mới đã dựng trên vị trí của chùa Linh Phong ngày xưa.

Thông tin liên quan

  • Năm Quý Sửu (1733), khi chùa Linh Phong được dựng kiên cố lần đầu, chúa Nguyễn Phúc Chú có ban cho ban chùa một tấm hoành và hai tấm liễn đối. Tấm hoành trên có khắc bốn chữ "Linh Phong Thiền Tự", phía trái khắc chữ "Vĩnh Khánh, tháng Giêngnăm Quí Sửu", phía mặt có khắc chữ "Quốc Chủ ngự đề".

Trên hai tấm liễn có khắc câu đối như sau:

Hải ngạn khởi lương nhân, pháp vũ phổ thiên tư Phật thổ;
Linh Phong ngưng thoại khí, tường vân biến địa ấm nhân gian.
Nghĩa là:
Bờ biển gặp duyên may, mưa pháp khắp trời thấm nhuần đất Phật;
Núi Linh đọng khí tốt, mây lành khắp chốn che chở người đời [8].
  • Ngoài những câu hát về chùa Ông Núi (tức chùa Linh Phong) còn lưu truyền trong dân gian, còn có một số thơ viết về ngôi cổ tự này, trong số đó có thơ của Phan Thanh Giản, Đào Tấn [9], Võ Kiêm, Quách Tấn...Giới thiệu hai đoạn hát dân gian:
Cây che đá chất chập chồng,
Biển giăng dưới núi chùa lồng trong mây.
Bụi đời không bợn mảy may,
Chút thân rộng tháng dài ngày thảnh thơi.

Và:

Ông Núi đi đâu
Bỏ bầu sơn thủy
Đủ nhân đủ trí
Thêm vỹ thêm kỳ...
Chùa xưa nhạt bóng tà huy,
Xui lòng non nước nặng vì nước non [10].
  1. Chùa Hang
  2. Nhà thờ Chánh tòa Quy Nhơn
  3. Đền thờ Đào Duy Từ
  4. Lăng Mai Xuân Thưởng
  5. Đền thờ Tăng Bạt Hổ - Hoài Ân
  6. Khu di tích Chi bộ Vạn Đức - Ân Tín, Hoài Ân

Danh thắng

  1. Gành Ráng
  2. Hầm Hô
  3. Bãi biển Quy Hòa
  4. Núi Bà
  5. Bãi biển Nhơn Lý-Cát Tiến
  6. Đầm Thị Nại,bán đảo Phương Mai
  7. Suối khoáng nóng Hội Vân
  8. Hồ Núi Một
  9. Cù Lao Xanh(đảo Nhơn Châu)
  10. Mũi Vi Rồng
  11. Cầu Thị Nại