Cẩm nang đi du lịch biển Sầm Sơn - Thanh Hoá

1. Sơ lược

Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 150 km về phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km về hướng Bắc. Đây là một tỉnh lớn của Việt Nam, đứng thứ 5 về diện tích và thứ 3 về dân số trong số các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, cũng là một trong những địa điểm sinh sống đầu tiên của người Việt.

Cách đây khoảng 6000 năm đã có người sinh sống tại Thanh Hóa. Các di chỉ khảo cổ cho thấy nền văn hóa xuất hiện đầu tiên tại đây là văn hóa Đa Bút. Sang đầu thời đại kim khí, thuộc thời đại đồ đồng, qua các bước phát triển với các giai đoạn trướcvăn hóa Đông Sơn, Thanh Hóa đã trải qua một tiến trình phát triển với các giai đoạn văn hoá: Cồn Chân Tiên, Đông Khối - Quỳ Chữ tương đương với các văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun ở lưu vực sông Hồng. Và sau đó là nền văn minh Văn Lang cách đây hơn 2.000 năm, văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hóa đã toả sáng rực rỡ trong đất nước của các vua Hùng.[2]

Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam trên nhiều phương diện. Về hành chính, Thanh Hóa là tỉnh cực bắc Trung Bộ, tiếp giáp với Tây Bắc Bộ và đồng bằng Bắc Bộ. Về địa chất, miền núi Thanh Hóa là sự nối dài của Tây Bắc Bộ trong khi đồng bằng Thanh Hóa là đồng bằng lớn nhất Trung Bộ, ngoài ra một phần nhỏ (phía bắc huyện Nga Sơn) thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng. Về khí hậu, Thanh Hóa vừa có kiểu khí hậu của miền Bắc lại vừa mang những hình thái khí hậu của miền Trung. Về ngôn ngữ, phần lớn người dân nói phương ngữ Thanh Hóa với vốn từ vựng khá giống từ vựng của phương ngữ Nghệ Tĩnh song âm vực lại khá gần với phương ngữ Bắc Bộ.

Thanh Hóa bao gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh, 2 thị xã và 24 huyện, với diện tích 11.133,4 km2 và số dân 3,405 triệu người với 7 dân tộc Kinh, Mường, Thái, H'mông, Dao, Thổ, Khơ-mú[3], trong đó có khoảng 355,4 nghìn người sống ở thành thị.[4]Năm 2005 Thanh Hóa 2,16 triệu người trong độ tuổi lao động , chiếm tỷ lệ 58,8% dân số toàn tỉnh, lao động đã qua đào tạo chiếm 27%, trong đó lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4%.[2]1

Vị trí địa lý

Ngày nay, theo số liệu đo đạc hiện đại của cục bản đồ thì Thanh Hóa nằm ở vĩ tuyến 19°18' Bắc đến 20°40' Bắc, kinh tuyến 104°22' Đông đến 106°05' Đông. Phía bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía nam và tây nam giáp tỉnh Nghệ An; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn nước Lào với đường biên giới 192 km; phía đông Thanh Hóa mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với bờ biển dài hơn 102 km. Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11.106 km², chia làm 3 vùng: đồng bằng ven biển, trung du, miền núi. Thanh Hóa có thềm lục địa rộng 18.000 km².

Địa hình, địa mạo

Địa hình Thanh Hóa nghiêng từ tây bắc xuống đông nam. Ở phía tây bắc, những đồi núi cao trên 1.000 m đến 1.500 m thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía đông nam. Đồi núi chiếm 3/4 diện tích của cả tỉnh, tạo tiềm năng lớn về kinh tế lâm nghiệp, dồi dào lâm sản, tài nguyên phong phú. Dựa vào địa hình có thể chia Thanh Hóa ra làm các vùng miền.

Miền núi, trung du: Miền núi và đồi trung du chiếm phần lớn diện tích của Thanh Hóa. Riêng miền đồi trung du chiếm một diện tích hẹp và bị xé lẻ, không liên tục, không rõ nét như ở Bắc Bộ. Do đó nhiều nhà nghiên cứu đã không tách miền đồi trung du của Thanh Hóa thành một bộ phận địa hình riêng biệt mà coi các đồi núi thấp là một phần không tách rời của miền núi nói chung.

Miền đồi núi chiếm 2/3 diện tích Thanh Hóa, nó được chia làm 3 bộ phận khác nhau bao gồm 11 huyện: Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy và Thạch Thành. Vùng đồi núi phía tây có khí hậu mát, lượng mưa lớn nên có nguồn lâm sản dồi dào, lại có tiềm năng thủy điện lớn, trong đó sông Chu và các phụ lưu có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các nhà máy thủy điện. Miền đồi núi phía Nam đồi núi thấp, đất màu mỡ thuận lợi trong việc phát triển cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây đặc sản và có Vườn quốc gia Bến En (thuộc địa bàn huyện Như Thanh và huyện Như Xuân), có rừng phát triển tốt, với nhiều gỗ quý, thú quý.

Vùng đồng bằng của Thanh Hóa lớn nhất của miền Trung và thứ ba của cả nước. Đồng bằng Thanh Hóa có đầy đủ tính chất của một đồng bằng châu thổ, do phù sa các hệ thống sông Mã, sông Yên, sông Hoạt bồi đắp. Điểm đồng bằng thấp nhất so với mực nước biển là 1 m.

Vùng ven biển: Các huyện từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia, chạy dọc theo bờ biển gồm vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửa sông Hoạt, sông Mã, sông Yên và sông Bạng. Bờ biển dài, tương đối bằng phẳng, có bãi tắm nổi tiếngSầm Sơn, có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc lấn biển, nuôi trồng thủy sản, phân bố các khu dịch vụ, khu công nghiệp, phát triển kinh tế biển (ở Nga Sơn, Nam Sầm Sơn, Nghi Sơn).

Lịch sử

Các di chỉ khảo cổ cho thấy người Việt đã sống ở đây cách nay 6000 năm. Thời kì dựng nước nó là bộ Cửu Chân và bộ Quân Ninhcủa nước Văn Lang.

Thời Bắc thuộc

Thời Nhà Hán chính quyền đô hộ Thanh Hóa thuộc quận Cửu Chân. Sang đến thời Tam Quốc, nhà Đông Ngô trực tiếp cai trị. Sau khi tách quận Cửu Chân thành hai quận Cửu Chân và Cửu Đức thì thuộc quận Cửu Chân mới gồm đất Thanh Hóa ngày nay và một phần phía nam Ninh Bình. Cửu Chân được chia làm 7 huyện: Tư Phố, Di Phong, Cư Phong, Trạn Ngô, Kiến Sơ, Phù Lạc, Thường Lạc, Tùng Nguyên. Sang đến thời nhà Lương, Lương Võ đế đổi Cửu Chân làm Ái Châu. Đến thời Nhà Tùy gọi là Cửu Chân quận.

Thời kì tự chủ

Ở thời kì tự chủ thì Thanh Hóa được đổi tên nhiều lần nhưng Thanh Hóa vẫn là tỉnh có số lần sát nhập và chia tách ít nhất cả nước.

Ở thời Nhà Đinh và Tiền Lê Thanh Hóa gọi là đạo Ái Châu. Ở thời Nhà Lý thời kỳ đầu gọi là trại Ái Châu, về sau vào năm Thuận Thiên 1 thì gọi là Phủ Thanh Hóa ).

Năm 1242 vua Trần Thái Tông đổi 24 lộ đời Lý thành 12 lộ, trong đó có Thanh Hóa phủ lộ. Năm Quang Thái thứ 10 (Trần Thuận Tông - năm 1397) đổi làm trấn Thanh Ðô. Trấn Thanh Ðô lúc này gồm 7 huyện và 3 châu (mỗi châu có 4 huyện). Trong đó, 7 huyện là: Cổ Ðằng, Cổ Hoằng, Ðông Sơn, Cổ Lôi, Vĩnh Ninh, Yên Ðịnh, Lương Giang. 3 châu bao gồm: châu Thanh Hóa gồm huyện Nga Lạc, huyện Tế Giang, huyện Yên Lạc, huyện Lỗi Giang; châu Ái gồm huyện Hà Trung, huyện Thống Bình, huyện Tống Giang, huyện Chi Nga; châu Cửu Chân gồm huyện Cổ Chiến, huyện Kết Thuế, huyện Duyên Giác, huyện Nông Cống.

Năm 1397, Trần Thuận Tông đổi làm trấn Thanh Đô, gồm 3 châu và 7 huyện: châu Thanh Hóa (gồm Nga Lạc, Tế Giang, Yên Lạc, Lỗi Giang); châu Ái (gồm: Hà Trung, Thống Bình, Tống Giang, Chi Nga);châu Cửu Chân (gồm: Cổ Chiến, Kết Thuế, Duyên Giác, Nông Cống); huyện Cổ Đằng; huyện Cổ Hoằng; huyện Đông Sơn; huyện Vĩnh Ninh; huyện Yên Định; huyện Lương Giang; huyện Cổ Lôi.

Năm 1430, Hồ Hán Thương đổi phủ Thanh Hóa thành phủ Thiên Xương. Sách Ðại Nam nhất thống chí ghi:
Phủ này (tức phủ Thiên Xương) cùng Cửu Chân và ái Châu làm "tam phủ" gọi là Tây Ðô". Thời thuộc Minh, trấn Thanh Ðô đổi thành phủ Thanh Hóa (năm 1407 - theo Ðào Duy Anh)' và Thời thuộc Minh lại làm phủ Thanh Hóa, lãnh 4 châu là Cửu Chân, ái Châu, Thanh Hóa, Quỳ Châu và 11 huyện. Trong đó, 11 huyện là Yên Ðịnh, Nông Cống, Vĩnh Ninh, Tống Giang, Cổ Ðằng, Nga Lạc, Lương Giang, Lỗi Giang, Ðông Sơn, Yên Lạc, Cổ Lôi[5]

Sau khi nhà Hồ thất thủ, nhà Minh cai trị Đại Việt, lại đổi lại làm phủ Thanh Hóa như cũ, đặt thêm hai huyện: Lôi Dương, Thụy Nguyên. Về địa giới vẫn không đổi.[5]

Sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, nhà hậu Lê cầm quyền. Năm Thuận Thiên thứ nhất (năm 1428), Lê Thái Tổ chia nước làm 5 đạo, Thanh Hóa thuộc Hải Tây đạo, đến năm Quang Thuận thứ 7 (năm 1466) đặt tên là Thừa Tuyên Thanh Hóa, năm Quang Thuận thứ 10 (năm 1469) lại đổi thành Thừa Tuyên Thanh Hoa, tên Thanh Hoa có từ đây. Thanh Hoa Thừa Tuyên theo "Thiên Nam dư hạ tập" lãnh 4 phủ, 16 huyện và 4 châu.

Thời Nhà Lê, Thanh Hóa là thừa tuyên Thanh Hóa (Thanh Hoa), gồm phần đất tỉnh Thanh Hóa ngày nay và tỉnh Ninh Bình (thời kỳ đó là phủ Trường Yên, trực thuộc) và tỉnh Hủa Phăn (Sầm Nưa) của Lào (thời kỳ đó gọi là châu Sầm). Xứ Thanh Hoa thời nhà Lê với 6 phủ:

  • Phủ Thiệu Thiên (Thiệu Hóa), nằm ở phía tây tây bắc xứ Thanh, có 8 huyện: Thụy Nguyên, Vĩnh Phúc (Vĩnh Lộc), Đông Sơn, Lôi Dương, Yên Định, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Quảng Bình.
  • Phủ Hà Trung phủ có 4 huyện: Hoằng Hóa, Thuần Lộc (Hậu Lộc), Nga Sơn, Tống Sơn.
  • Phủ Tĩnh Gia có 3 huyện: Nông Cống, Ngọc Sơn, Quảng Xương.
  • Phủ Thanh Đô có 4 châu và 1 huyện là huyện Thọ Xuân và các châu: Khai Na (Quan Da), Tàm (châu), Lương Chính (Lang Chánh), Sầm (châu) (nay thuộc Lào).
  • Phủ Trường Yên, nay là một phần tỉnh Ninh Bình, có 3 huyện: Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khang (Yên Khánh).
  • Phủ Thiên Quan (Nho Quan), ở phía Tây Bắc xứ Thanh, giáp với trấn Sơn Tây và trấn Sơn Nam, nay thuộc các tỉnh Ninh Bìnhvà Hòa Bình, có 3 huyện: Phụng Hóa, Yên Hóa, Lạc Thổ (Lạc Sơn).[6]

Sau khi nhà Nguyễn lên nắm quyền, vào năm Gia Long thứ nhất (1802), đổi gọi là trấn Thanh Hóa. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), đổi trấn thành tỉnh, bắt đầu gọi là tỉnh Thanh Hoa (Hoa: tinh hoa). Đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), lại đổi thành tỉnh Thanh Hóa.[7]

Tên gọi Thanh Hóa không đổi từ đó cho tới ngày nay.

Dân cư

Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, Thanh Hóa có 3.400.239 người, đứng thứ ba Việt Nam, chỉ sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.[8]

Trong tổng dân số năm 2009, nữ giới có 1.717.067 người, dân số thành thị là 354.880 người. Mật độ dân số vào loại trung bình: giảm từ 310 người/km² (năm 1999) xuống 305 người/km² (năm 2009). Tỉ số giới tính (số nam trên 100 nữ) tăng từ 95,6% (năm 1999) lên 98,0% (năm 2009), tương đương với mức chung của cả nước.[8]

Thanh Hóa là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, nhưng chủ yếu có 7 dân tộc là Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú. Người Kinh chiếm phần lớn dân số của tỉnh và có địa bàn phân bố rộng khắp, các dân tộc khác có dân số và địa bạn sống thu hẹp hơn.

Văn hóa

Văn hóa, văn nghệ dân gian

Tại Thanh Hóa có nhiều hình thức văn hóa truyền thống, phần nhiều vẫn còn tồn tại và đang được phát huy. Về dân ca, dân vũ, được nhiều người biết đến nhất là các làn điệu hò sông Mã, dân ca, dân vũ Đông Anh, trò diễn Xuân Phả. Ngoài ra còn có ca trù, hát xoan... Các dân tộc ít người cũng có nhiều loại hình văn nghệ dân gian khá đa dạng như hát xường của người Mường, khắp của người Thái...

Kho tàng truyện cổ cũng khá đặc sắc như truyện cổ về sự tích về các ngọn núi, truyện dân gian của ngư dân ven biển Hậu Lộc, Sầm Sơn, Tĩnh Gia. Đặc biệt là các sự tích về nguồn gốc dân tộc Mường.

Các lễ hội cũng rất đặc sắc như lễ hội Pôồn Pôông của người Mường, lễ hội cầu ngư, lễ hội đền Sòng...

Văn nghệ đương đại

Văn nghệ thời kì sau cách mạng tháng Tám ở Thanh Hóa có các nhà thơ Hồng Nguyên, Hữu Loan, Nguyễn Bao, Nguyễn Duy, nhà văn Triệu Bôn... Trong thời kì chiến tranh chống Mỹ những năm 1960-1975, địa danh Hàm Rồng là đề tài của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật.

Những năm thời kỳ đổi mới có Phùng Gia Lộc là tên tuổi nổi bật viết về nông thôn Thanh Hóa, trong đó Cái đêm hôm ấy... đêm gì[1] là bút ký gây được tiếng vang trên văn đàn nước nhà.

Một số tác phẩm thơ viết về quê hương Thanh Hóa như: Về lại xứ Thanh (Phan Quế), Về với Sầm Sơn (Hà Hồng Kỳ), Quê Mẹ (Lưu Đình Long), Quê tôi đấy - Xứ Thanh! (Văn Công Hùng), Dô tả, dô tà (Mạnh Lê), Mẹ Tơm (Tố Hữu), Trụ cầu Hàm Rồng (Mã Giang Lân).

Giáo dục

Thanh Hóa nổi tiếng hiếu học từ xưa, quê hương của nhiều nho sĩ. Trong thời kì phong kiến Thanh Hóa có 2 trạng nguyên, hàng ngàn tiến sĩ, bảng nhãn, thám hoa.

Nền giáo dục hiện tại của Thanh Hóa cũng luôn được xem là cái nôi nhân tài của Việt Nam. Năm 2008, trong kì thi tuyển sinh Cao đẳng và Đại học, Thanh Hóa có nhiều thủ khoa nhất nước.[12]

Trên địa bàn Thanh Hóa đến năm 2010 có 2 trường đại học đào tạo đa ngành là Đại học Hồng Đức và một cơ sở của Trường Đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, 1 trường dự bị đại học, 5 trường cao đẳng, nhiều trường trung cấp, 125 trường THPT và 25 trung tâm giáo dục thường xuyên.

Thể thao

Thanh Hóa là tỉnh có truyền thống về các môn thể thao: Điền kinh, bơi lội, Bắn súng, các môn võ thuật nữ, vật, cầu mây nữ, cầu lông nữ, bóng chuyền nữ, bóng đá nam... Thanh Hóa cung cấp nhiều vận động viên cho các đội tuyển quốc gia của Việt Nam.[cần dẫn nguồn]

Kinh tế

Tài nguyên thiên nhiên

Là tỉnh có nguồn tài nguyên đa dạng nhưng nhìn chung nguồn tài nguyên có trữ lượng không lớn, và thường phân bố không tập trung nên rất khó cho việc phát triển công nghiệp khai khoáng. Thanh Hóa hiện tại mới chỉ có một số nhà máy đang tiến hành khai thác nguồn tài nguyên, như: nhà máy xi măng Bỉm sơn, xi măng Nghi sơn, phân bón Hàm rồng,... Đa số nguồn tài nguyên đang bị thất thoát do kiểm soát không chặt chẽ.

Thanh Hóa có khoáng sản chính là vàng, cromit, thiếc, đá quý. Chúng chưa được đánh giá đúng, nhất là vàng. Vàng uy đã bị người tàu, dân tự do khai thác ở nhiều huyện miền núi[cần dẫn nguồn], song trữ lượng còn rất lớn. Có thể nói các huyện trong tỉnh, nếu có chuyên môn tốt sẽ tìm được vàng cho khai thác và chỉ có khai thác công nghiệp mới đem lại lợi ích cho Đất nước và tránh ô nhiễm môi trường.

Công nghiệp

Cũng như Việt Nam, nền công nghiệp Thanh Hóa đang phát triển. Theo số liệu của tổng cục thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2009, chỉ số phát triển công nghiệp của toàn tỉnh tăng 8,2%, đây là mức tăng cao so với mức tăng bình quân của cả nước là 4,6% (trong đó TP Hồ Chí Minh và Hà Nội chỉ tăng ở mức thấp là 0,4% và 2,7%).[13] Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Thanh Hóa xếp ở vị trí thứ 24/63 tỉnh thành.[14] Tính đến thời điểm năm 2009, Thanh Hóa có 5 khu công nghiệp tập trung và phân tán. Một số khu công nghiệp:

  • Khu công nghiệp Bỉm Sơn - Thị xã Bỉm Sơn
  • Khu công nghiệp Nghi Sơn (nằm trong Khu kinh tế Nghi Sơn) - Huyện Tĩnh Gia
  • Khu công nghiệp Lễ Môn - Thành phố Thanh Hóa
  • Khu công nghiệp Đình Hương (Tây Bắc Ga) - Thành phố Thanh Hóa
  • Khu công nghiệp Lam Sơn - Huyện Thọ Xuân

Hiện tại Thanh Hóa đang xây dựng khu kinh tế Nghi Sơn. Khu kinh tế này được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập và ban hành quy chế hoạt động số 102/2006/QĐ-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2006. Khu kinh tế này nằm ở phía Nam của tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội 200 km, có đường bộ và đường sắt quốc gia chạy qua, có cảng biển nước sâu cho tầu có tải trọng đến 30.000 DWT cập bến. Khu kinh tế Nghi Sơn là một trung tâm động lực của vùng Nam Thanh Bắc Nghệ đang được quy hoạch, cũng được đánh giá là trọng điểm phát triển phía Nam của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, đồng thời là cầu nối giữa vùng Bắc Bộ với Trung Bộ, với thị trường Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan.

Nông nghiệp

Thống kê đến năm 2004, toàn tỉnh có 239.843 ha đất nông nghiệp đang được sử dụng khai thác.

  • Năm 2002, tổng sản lượng lương thực cả tỉnh đạt 1,408 triệu tấn
  • Năm 2003, tổng sản lượng nông nghiệp cả tỉnh đạt 1,5 triệu tấn: nguyên liệu mía đường 30.000 ha; cà phê 4.000 ha; cao su 7.400 ha; lạc 16.000 ha; dứa 1.500 ha; sắn 7.000 ha; cói 5.000 ha...

Lâm nghiệp

Thanh Hóa là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất có rừng 436.360 ha, trữ lượng khoảng 15,84 triệu m³ gỗ, hàng năm có thể khai thác 35.000-40.000 m³ (thời điểm số liệu hiện tại năm 2007). Rừng Thanh Hóa chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ thực vật phong phú, đa dạng về họ, loài. Gỗ quí hiếm có lát, pơ mu, sa mu, lim xanh, táu, sến, vàng tâm, giổi, de, chò chỉ. Các loại thuộc họ tre nứa gồm có: luồng, nứa, vầu, giang, tre, ngoài ra còn có: mây, song, dược liệu, quế, cánh kiến đỏ... các loại rừng trồng có luồng, thông nhựa, mỡ, bạch đàn, phi lao, quế, cao su. Nhìn chung vùng rừng giàu và trung bình chủ yếu là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, phân bố trên các dãy núi cao ở biên giới Việt - Lào. Thanh Hóa là tỉnh có diện tích luồng lớn nhất trong cả nước với diện tích trên 50.000 ha.

Rừng Thanh Hóa cũng là nơi quần tụ và sinh sống của nhiều loài động vật như: voi, hươu, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng, các loài bò sát và các loài chim... Đặc biệt ở phía nam của tỉnh có vườn quốc gia Bến En, phía bắc có vườn quốc gia Cúc Phương, phía tây bắc có khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông và khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, phía tây nam có khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên là những nơi tồn trữ và bảo vệ các nguồn gien, động vật, thực vật quý, đồng thời là những điểm du lịch hấp dẫn.

Ngư nghiệp

Ngư nghiệp Thanh Hóa có nhiều điều kiện phát triển

Thanh Hóa có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với những bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn, thuận lợi cho tàu thuyền ra vào. Vì vậy Thanh Hóa có điều kiện phát triển ngư nghiệp rất tốt.

Dịch vụ

Ngân hàng

Bên cạnh Ngân hàng Nhà nước, hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh gồm Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Chính sách. Hiện nay, các ngân hàng đang thực hiện đổi mới và đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, áp dụng các công nghệ tiên tiến trong việc chuyển phát nhanh, thanh toán liên ngân hàng, thanh toán quốc tế bảo đảm an toàn và hiệu quả. Tổng nguồn vốn huy động tín dụng hàng năm đạt trên 3.000 tỷ đồng, tổng dư nợ năm 2002 đạt trên 4.000 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2001.

Bảo hiểm

Là tỉnh có dân số đông thứ ba cả nước, Thanh Hóa được xác định là thị trường tiềm năng ở tất cả các loại hình bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Hiện tại trên địa bàn tỉnh có tám công ty bảo hiểm được cấp phép hoạt động bảo hiểm. Các công ty bảo hiểm trên địa bàn đang không ngừng mở rộng thị trường, tạo sự cạnh tranh lành mạnh nhằm mục đích nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.

Thương mại dịch vụ

Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, thương mại Thanh Hóa đã có bước phát triển quan trọng. Trên địa bàn đã hình thành hệ thống bán buôn, bán lẻ với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, tạo điều kiện lưu thông thuận tiện hàng hóa phục vụ nhu cầu đời sống, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Kim ngạch xuất khẩu tăng đều qua các năm, năm 2000 đạt trên 30 triệu USD, năm 2001 đạt 43 triệu USD và năm 2002 đạt 58 triệu USD. Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, bên cạnh thị trường Nhật Bản, Đông Nam Á, một số doanh nghiệp đã xuất khẩu sang Mỹ, Châu Âu. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh là: nông sản (lạc, vừng, dưa chuột, hạt kê, ớt, hạt tiêu, cà phê...), hải sản (tôm, cua, mực khô, rau câu), hàng da giày, may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ (các sản phẩm mây tre, sơn mài, chiếu cói...), đá ốp lát, quặng crôm...

Giao thông

Thanh Hóa là một trong những tỉnh có cả 3 hệ thống giao thông cơ bản là đường sắt, đường bộ và đường thủy. Trên toàn tỉnh có 8 ga tàu hỏa là Bỉm Sơn, Đò Lèn, Nghĩa Trang, Hàm Rồng, Thanh Hóa, Yên Thái, Minh Khôi, Thị Long trong đó có một ga chính trong tuyếnđường sắt Bắc Nam, 4 tuyến đường bộ huyết mạch của Việt Nam (quốc lộ 1A, quốc lộ 45, quốc lộ 47, và đường Hồ Chí Minh), trong đó quốc lộ 47 dài 61 km, quốc lộ 1A chạy qua Thanh Hóa dài 123 km [cần dẫn nguồn]; một cảng nước sâu. Thanh Hóa có sân bay quân sự Sao Vàng chuẩn bị đầu tư bổ sung các cơ sở phục vụ hoạt động bay dân dụng từ cuối năm 2012[15]. Các dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, đường cao tốc Bắc Nam đều đi qua Thanh Hóa.

2. Ẩm thực - Đặc sản

Đến Thanh Hóa du khách sẽ được thưởng thức những món đặc sản độc đáo nổi tiếng cả nước của xứ Thanh như: nem chua Thanh Hóa, chè lam Phủ Quảng, dê núi đá, gà đồi (của huyện Vĩnh Lộc), bánh gai Tứ Trụ (của huyện Thọ Xuân), các món chế biến từ hến làng Giàng (huyện Thiệu Hóa), bánh đa cầu Bố (thành phố Thanh Hóa), mía đen Kim Tân, thịt trâu nấu lá lồm, chim mía (huyện Thạch Thành), hay các món hải sản: cua biển, ghẹ, sò huyết, tôm, mực, cá thu, cá tràu từ các huyện ven biển Sầm Sơn, Tĩnh Gia, Nga Sơn.[16]

Món đặc sản của Thanh Hóa được du khách thập phương biết đến nhiều nhất có lẽ là nem chua. Nem chua Thanh Hóa được làm từ thịt nạc, bì thái chỉ, hạt tiêu, ớt, tỏi và lá đinh lăng, gói bên ngoài bởi rất nhiều lớp lá chuối. Thịt nạc được chọn là loại thật nạc, ngon, tươi, không dính mỡ, không dính gân, trộn đều với bì luộc thái chỉ, gia vị. Không thể thiếu một chút ớt cho thêm đậm đà, tiêu để dậy mùi, một chút tỏi để khử trùng và một vài lá đinh lăng. Nem chua Thanh Hóa có hương vị rất khác lạ so với nem chua Hà Nội hay nem lụi ở Huế, lại càng khác xa với nem rán hay nem tai. Nó có vị chua, cay, ngọt, mặn và dậy mùi thơm khiến du khách đã ăn một lần khó có thể quên.[17]1

3. Du Lịch

Suối cá tại chân núi Trường Sinh thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy (cách trung tâm TP Thanh Hóa hơn 70 km về phía Tây Bắc) là một điểm du lịch nổi tiếng thu hút khách du lịch và các nhà nghiên cứu.

Thanh Hóa là tỉnh có tiềm năng về du lịch. Năm 2007 du lịch Thanh Hóa năm đón tiếp gần 1,7 triệu lượt khách, chủ yếu là khách trong nước đến tham quan nghỉ mát tại đô thị du lịch biển Sầm Sơn.

Hiện tại, tỉnh Thanh Hóa xác định đưa du lịch thành ngành kinh tế quan trọng. Tỉnh đã thực hiện quy hoạch hạ tầng, nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch. Năm 2007, Thanh Hóa phối hợp với Hà Nội, Ninh Bình, Nghệ An, Huế trong chương trình "Hành trình một nghìn năm các kinh đô Việt Nam". Phối hợp cùng Nghệ An và Ninh Bình lập định hướng quy hoạch vùng du lịch trọng điểm Bắc Trung Bộ.

Các khu du lịch, di tích lịch sử và danh thắng nổi tiếng của tỉnh:

  • Các khu du lịch biển: Bãi biển Sầm Sơn, Bãi biển Hải Hòa.

  • Các khu bảo tồn thiên nhiên: 

  • Vườn quốc gia Bến En: 
Nằm cách thành phố Thanh Hoá 46 km về phía Tây nam, vườn quốc gia Bến En là một địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn đối với bất kỳ ai yêu thích vẻ nguyên sơ của tạo hoá. So với các Vườn quốc gia ở phía Bắc như: Ba Bể, Ba Vì, Tam Đảo, Cúc Phương .. vườn Bến En có tầm cỡ thực sự về tiềm năng du lịch sinh thái.
 

Vườn Bến En trải rộng trên 2 huyện Như Xuân và Như Thanh với tổng diện tích 16.634ha, chia làm 3 khu vực chính, trong đó khu bảo tồn nguồn gien là nơi 'cấm địa' của vườn (chỉ những nhà khoa học mới được phép tìm hiểu, nghiên cứu), ở đây hệ thực vật rất phong phú với hàng trăm loài, bộ, họ (Có họ có tới 10 loài) như các loại cây lim xanh rất đặc trưng (có cây lên tới cả ngàn tuổi) cây trò trĩ và các loài thuốc nam quý … Tính đặc trưng của vườn có những nét đẹp và phong phú rất khác các vườn quốc gia khác. Hệ động vật cũng vậy, các loài quý hiếm ở đây là voi, hổ, gấu, chim …tồn tại trong 37 bộ, 96 họ, 216 giống và 309 loài, các loài Voi, Vượn má trắng, hổ ...thuộc loại quý hiếm đang được bảo vệ. Tuy nhiên, ở phân khu du lịch sinh thái dường như gần gũi với du khách hơn cả. Khu này gồm lòng hồ được hình thành bởi 4 con suối và con sông Mực có diện tích rộng khoảng 3.500 ha, nước bốn mùa xanh biếc, tĩnh lặng trong quần thể không gian trời, mây, non, nước hữu tình. Du khách sẽ thoả lòng khi đến thăm 21 hòn đảo với những sắc thái rất khác nhau bằng các chuyến ca nô, xuồng máy ....Đặc biệt, tại đây có 8 tuyến đi du lịch trên hồ thăm các ốc đảo. Trong 8 tuyến đi (cơ bản tuỳ theo sự lựa chọn của khách) tuyến ngắn nhất là 1,5km và tuyến dài nhất 8,5km.

Du khách có thể đến thăm đảo động vật, đảo thực vật, chiêm ngưỡng hang Dơi, ngắm cảnh hang động với nhiều hình thù kỳ lạ được sắp đặt bởi bàn tay của tạo hoá. Hơn thế nữa, du khách có thể đi vào các bản làng của người H'Mông, người Thổ uống rượu cần … hoàn toàn phù hợp với tour du lịch cộng đồng. Ở các đảo động vật, các loài thú được bảo vệ, nuôi nấng theo hình thức bán hoang dã nên mọi hoạt động sinh hoạt của nó đều tự nhiên đến lý thú. Trong đảo thực vật bao gồm tất cả các loài cây có tên ở Việt Nam, được trồng phân theo từng loại, từng bộ, họ … đã phục vụ rất tốt cho các nhà khoa học, ngành lâm nghiệp, môi trường sinh thái và khách du lịch …
Trên tuyến bộ bắt đầu từ trung tâm vườn đi lên khu phía Bắc, chúng ta sẽ bắt gặp những cảnh quan không kém phần hấp dẫn so với nội khu. Đó là cụm núi đá Hải Vân tồn tại song song với 21 hòn đảo trong lòng hồ, cụm di tích hang Lò Cao kháng chiến - nơi Giáo sư Trần Đại Nghĩa từng chế tạo vũ khí từ năm 1945 phục vụ kháng chiến chống Pháp. Đi xa hơn nữa, khách du lịch có thể đến Phủ Sung, Phủ Na - nơi nhân dân vẫn thường tổ chức phường hội cúng tế trời đất … Tiếp đó là quần thể thắng cảnh hang Ngọc, cây lim trăm tuổi như biểu tượng của vườn. Trong hang Ngọc, một suối nước trong vắt, theo quan niệm nếu tắm được ở đây có nghĩa là đã cởi bỏ được những tục trần nặng nhọc nhất của cuộc sống đời thường. Có lẽ chính vì thế mà hang Ngọc tuy có xa hơn một chút so với các đảo trên lòng hồ Bến En, song vẫn là điểm được khách đến đông hơn cả.
Đến Bến En, dù là du lịch sinh thái, song nếu đặt trước vẫn có thể được hưởng những món ăn đặc sản như: món cá quả, cá mè.. rất to được bắt từ sông Mực có thể nướng hoặc luộc, hấp … Mùa hè có thể ăn thêm món trai dắt vách đá (một loại nhuyễn thể gần giống với ốc) đặc biệt mang hương vị của rừng.
Bến En hôm nay đang được quan tâm chú ý đúng mức, đến khả năng du lịch sinh thái và nhiệm vụ bảo tồn. Với những thế mạnh vốn có, có thể khẳng định Vườn Quốc gia Bến En với đảo, rừng, sông, suối, hồ nước, hang động và sự trân trọng của con người, Bến En sẽ là điểm du lịch sinh thái lý tưởng.
  • Vườn quốc gia Cúc Phương: 

Cách thủ đô Hà Nội 120 km về phía nam, nằm lọt sâu trong lòng dãy núi Tam Điệp, có một mảnh đất đã trở lên vô cùng quen thuộc, thân thương, gợi lên tính hiếu kỳ cho biết bao du khách trong và ngoài nước, đó là Vườn quốc gia Cúc Phương - Vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam.

Được thành lập ngày 07 tháng 07 năm 1962 theo Quyết định số 72-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Vườn quốc gia Cúc Phương thuộc địa phận ba tỉnh Ninh Bình, Hoà Bình và Thanh Hoá với tổng diện tích là 22.200 ha. Với nhiều giá trị về cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng về hệ sinh thái, các giá trị văn hoá, lịch sử nên từ lâu Cúc Phương đã trở thành điểm du lịch sinh thái nổi tiếng và hấp dẫn.

Đa dạng sinh học.
Với đặc trưng là rừng mưa nhiệt đới, xanh quanh năm, Cúc Phương có quần hệ động thực vật vô cùng phong phú và đa dạng, theo số liệu điều tra gần đây Cúc Phương có hơn 2000 loài thực vật bậc cao, trong đó có 433 loài cây làm thuốc, 229 loài cây ăn được, nhiều loài được ghi trong sách đỏ của Việt Nam.
Về động vật, Cúc Phương có 122 loài bò sát và lưỡng cư, 65 loài cá, gần 2000 loài côn trùng, 133 loài thú (trong đó có loài voọc đen mông trắng là loài thú linh trưởng rất đẹp và quý hiếm được chọn làm biểu tượng của VQG Cúc Phương). Với hơn 300 loài chim cư trú, đặc biệt có nhiều loài đặc hữu của Việt Nam và Đông Dương, vì vậy Cúc Phương từ lâu đã trở thành điểm lý tưởng đối với các nhà xem chim.

Phong cảnh Caxtơ và giá trị khảo cổ.
Thuộc địa hình Caxtơ nửa che phủ, Cúc Phương có nhiều hang động đẹp với những cái tên gợi cảm như: động Sơn cung, động Phò mã giáng…Đặc biệt có một số hang động còn lưu giữ những dấu tích của người tiền sử, sống cáchngày nay từ 7.500 năm đến 12.000 năm, đó là hang Đắng (động người xưa), hang con Moong. Năm 2000 Cúc Phương đã phát hiện một hoá thạch của loài động vật có xương sống, theo kết luận ban đầu của Viện cổ sinh học Việt Nam đây là hoá thạch của loài bò sát răng phiến, sống cách ngày nay chừng 200 đến 230 triệu năm.

Bản sắc văn hoá.
Từ xa xưa, Cúc Phương là nơi cư trú và sinh sống của cộng đồng người Mường với những nét văn hoá độc đáo và đặc trưng, đó là những nếp nhà sàn, ruộng bậc thang, những cối giã gạo nương, những khung dệt thổ cẩm, độc đáo hơn là những lễ hội, phong tục tập quán và nếp sống của cộng đồng mà du khách có thể cảm nhận được trong thời gian thăm bản.

Cơ cấu tổ chức:

  • Ban Giám Đốc
  • Các Phòng tham mưu giúp việc:
    - Phòng Tổ chức - Hành chính.
    - Phòng Kế hoạch - Tài chính.
    - Phòng Khoa học & Hợp tác Quốc tế.
  • Các đơn vị trực thuộc: 
    - Hạt Kiểm Lâm.
    - Trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trường.
    - Trung tâm cứu hộ và bảo tồn động, thực vật hoang dã quý hiếm.

Các thành tích nổi bật:

- Năm 2000 được Nhà nước phong tặng Đơn vị Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới.

-Năm 2002 được Nhà nước phong tặng huân chương Độc lập hạng nhì vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác bảo tồn thiên nhiên và nhiều phần thưởng cao quý khác.

  • Các khu bảo tồn: 
  • Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu:  Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Hu được thành lập theo Quyết định số: 447/QĐ-UB ngày 20/3/1999 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá, với mục tiêu: Xây dựng và phát triển khu rừng đặc dụng kết hợp phòng hộ, nâng cao độ che phủ, tạo môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn, hạn chế thiên tai. Bảo vệ tính đa dạng sinh học; Nâng cao nhận thức và đời sống của người dân; Góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội cho vùng biên giới.
  •  

    * Tổng diện tích tự nhiên đề xuất trong giai đoạn III (2011 – 2015): 23.149,45 ha, thuộc 39 TK nằm trên địa giới hành chính của 11 xã thuộc 2 huyện Quan Hoá gồm 10 xã: Xã Nam Tiến; Thiên Phủ; Hiền Chung; Hiền Kiệt; Thanh Xuân; Phú Sơn; Phú Xuân; Phú Thanh; Trung Thành; Trung Sơn và huyện Mường lát (1 xã Trung Lý), thuộc tỉnh Thanh Hoá. Trong đó:

    + Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 10.573,72ha

    + Phân khu phục hồi sinh thái: 12.253,23ha

    + Phân khu hành chính dịch vụ: 322,5 ha.

    Diện tích vùng đệm (ha): 51.099,75 ha.

  • Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông: 

    Nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, thuộc địa phận hai huyện Quan Hóa và Bá Thước, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông hiện đang lưu giữ những giá trị cảnh quan thiên nhiên phong phú, hệ động thực vật đa dạng, là điểm đến hấp dẫn với những ai ưa thích khám phá thiên nhiên…

    Khu Bảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) Pù Luông có diện tích 17.662 ha, hiện là khu vực rừng núi đá vôi đất thấp lớn nhất còn lại ở miền Bắc Việt Nam với 3 kiểu rừng chính: Rừng rậm trên đất thấp, núi thấp; rừng trên núi đá vôi; các thảm thực vật măng tre nứa và cây bụi. 
     

    Theo số liệu của Ban Quản lí KBTTN Pù Luông, hiện Khu bảo tồn có 1.109 loài cây có mạch, thuộc 447 chi, 152 họ, trong đó có 42 loài là đặc hữu Việt Nam và 4 loài xếp trong Sách đỏ Thế giới; gần 600 loài động vật gồm thú, chim, lưỡng cư..., với 51 loài động vật quý hiếm và đặc hữu xếp trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ Thế giới, trong đó thú 26 loài, dơi 5 loài, chim 9 loài, cá nước ngọt 5 loài, bò sát 6 loài. Đặc biệt, KBTTN Pù Luông là nơi có quần thể linh trưởng mang tính đặc hữu Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) lớn thứ hai ở Việt Nam, sau Khu Bảo tồn Thiên nhiên Vân Long (Ninh Bình) với số lượng khoảng 31-38 cá thể. 

    Chạy xuyên suốt KBTTN Pù Luông là đường 15C. Từ Hà Nội có thể đến Khu bảo tồn này theo hai đường, hướng từ bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình) qua quốc lộ 47 gặp đường 15C tại ngã ba Co Lương hoặc theo đường Hồ Chí Minh rẽ phải ở thị trấn Cẩm Thủy, Thanh Hóa, gặp đường 15C tại thị trấn Cành Nàng. Đến Pù Luông, du khách có nhiều sự lựa chọn như khám phá vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên, những khu rừng sinh thái với hệ động thực vật phong phú, tìm hiểu phong tục, tập quán của người Thái, người Mường giản dị, mộc mạc ở nơi này.

    Với những ai ưa thích mạo hiểm, chuyến leo núi chinh phục đỉnh Pù Luông, ngọn núi cao nhất vùng với độ cao 1700m sẽ là một trải nghiệm khó quên. Những khó khăn, vất vả sau một chặng leo núi hơn 5 tiếng dường như tan biến khi được ngắm từ trên cao vẻ đẹp hùng vĩ của thung lũng Pù Luông. Nếu chọn cách chạy xe dọc đường 15C, dù theo hướng nào, du khách cũng được hòa mình với thiên nhiên, qua những bản làng dựa lưng vào núi, những thửa ruộng bậc thang tuyệt đẹp xen kẽ những khu rừng nguyên sinh xanh mướt.
     
    Dừng chân ở bản Hang, du khách được ngắm nhìn những thửa ruộng bậc thang trùng điệp, được tìm hiểu tập quán canh tác truyền thống của người dân nơi đây. Đến với bản Kho Mường, ngoài cảnh quan, địa thế hùng vĩ, du khách được khám phá hang động với những nhũ đá huyền bí. Một địa danh không thể bỏ qua khi đến Pù Luông là bản Hiêu. Trên con đường không xa từ thị trấn Phố Đoàn vào bản, du khách có thể bắt gặp rất nhiều guồng nước đặc trưng của người Thái. Qua cầu treo, vượt lên con dốc trên đồi đất, từ xa đã nghe tiếng thác nước bản Hiêu ầm ầm đổ. Thật lạ lùng, dòng suối với những nhánh nhỏ len lỏi chảy quanh bản, ngay cạnh chân cầu thang của những nếp nhà sàn, chảy ra ruộng lúa rồi bất chợt đổ xuống tạo ra hai thác nước hùng vĩ tung bọt trắng xóa... 



    Sau một ngày khám phá đất Pù Luông, du khách có thể nghỉ ngơi lưu trú trong các ngôi nhà sàn rộng rãi, thoáng mát của người dân bản địa. Tại KBTTN Pù Luông hiện đang phát triển loại hình du lịch sinh thái cộng đồng. Đây là loại hình du lịch do chính người dân tổ chức dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống song song với việc bảo vệ, gìn giữ cảnh quan môi trường. Bên bếp lửa nhà sàn, chủ và khách cùng thưởng thức các món ăn lạ miệng như cơm lam, nộm hoa chuối rừng, canh đắng…, cùng say men rượu cần và say mê thưởng thức những điệu múa sạp, múa xòe, hát lượn…

    Đến KBTTN Pù Luông, một màu xanh mướt trải đều trên các cánh rừng bất tận, ruộng bậc thang trùng điệp đem lại cho du khách cảm giác như lạc vào một thung lũng cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. KBTTN Pù Luông vẫn còn ẩn chứa không ít điều thú vị, hiện là điểm đến hấp dẫn của nhiều du khách trong và ngoài nước./.
  • Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Khu bảo tồn thiên nhiên rừng sến Tam Quy.

 

  • Suối cá thần Cẩm Lương: Thuộc làng Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, cách thành phố Thanh Hóa hơn 70 km về phía Tây, là suối cá tự nhiên và ngày nay trở thành điểm du lịch lý thú của tỉnh Thanh Hoá. Ở đây có tới hàng ngàn con cá lớn nhỏ bám dày đặc suốt chiều dài hơn 100 m của con suối. Mỗi con cá nặng trung bình từ 2 đến 8 kg, có cá chúa nặng tới 30 kg. Cá ở đây rất dạn người và thân thiện với khách du lịch. Mặc dù rất nhiều cá nhưng điều kỳ lạ là nước suối rất trong và mát, thậm chí khách có thể dùng để rửa mặt. Người dân ở đây tôn thờ những chú cá như các vị thần (là nguồn gốc của tên gọi "Suối cá thần"), mặc dù rất nhiều cá nhưng không ai dám bắt ăn, người ta truyền miệng nhau rằng nếu ăn thịt các ông "cá thân" thì sẽ gặp phải những điều rủi ro, bất hạnh.

  • Cụm di tích Nga Sơn: Động Từ Thức, Cửa biển Thần Phù, Chiến khu Ba Đình, đền thờ Mai An Tiêm...

  • Cụm di tích thành nhà Hồ:

     

    Từ thành phố Thanh Hoá, theo quốc lộ 45 ngược lên phía bắc, qua các huyện Đông Sơn, Thiệu Hoá, đến huyện lỵ Vĩnh Lộc, ngược con đường Thiên Lý xưa kia độ 2 km là chúng ta đã đến Thành Tây Đô hay còn gọi là Thành An Tôn, Thành Tây Giai, thành Nhà Hồ thuộc địa phận hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá ngày nay.

     

     

     

    Năm 1397, Hồ Quý Ly chọn đất An Tôn xây thành thủ hiểm. Thành được xây dựng ở khoảng giữa sông Mã và sông Bưởi, phía Bắc có núi Thổ Tượng, phía Tây có núi Ngưu Ngoạ, phía Đông có núi Hắc Khuyển, phía Nam là nơi hội tụ của sông Mã chảy từ phía Tây về và sông Bưởi chảy tới. Sử cũ cho biết thành xây 3 tháng thì xong. Thành Tây Đô được xây dựng trên bình đồ kiến trúc gần vuông. Hiện nay, thành có độ cao trung bình 7m đến 8m, các cổng thành còn khá nguyên vẹn, riêng cửa nam cao tới 10m. Thành Tây Đô là bằng chứng về sức lao động và tài năng của nhân dân ta và là công trình mang nhiều giá trị lịch sử văn hoá to lớn. Nét đặc sắc của tường thành này là ở phần xây đá bên ngoài, còn bên trong đắp đất. Mặt ngoài thành được gia cố bằng những tảng đá xanh đẽo vuông vức, công phu ít nhất có từ 4 đến 5 mặt phẳng. Nhiều phiến rất to ở cửa Tây (dài tới 5,1m, rộng 1,59m, cao 1,30m), được xếp chồng lên nhau thành hình chữ công. Những phiến đá nặng hàng tấn chỉ xếp lên mà không cần chất kết dính vẫn đảm bảo độ bền vững. Qua hơn 600 năm trường tồn cùng những biến cố, thăng trầm của đất nước và tác động của thời tiết, hệ thống tường thành còn khá nguyên vẹn cho đến ngày nay. Tường thành không những được xây bằng đá tảng mà năm Tân Tỵ (1401), Hồ Hán Thương hạ lệnh cho nhân dân nung gạch để xây thêm phần tường thành phía trên. Phần tường gạch ngày nay gần như không còn nữa nhưng những viên gạch vẫn thấy nằm rải rác trong các gia đình gần thành.
    Cho đến nay, nơi khai thác và cung cấp đá cho việc xây dựng thành Tây Đô và cả việc chuyên chở vật liệu đang là đề tài bàn bạc. Nhân dân địa phương cho biết, người xưa có thể lấy đá ở nhiều nơi quanh vùng Tây Đô, gần nhất là núi đá xanh Yên Tôn, hiện còn những tảng đá xanh mang tên “An Tôn xã”. Hang Tượng dùng để nhốt voi chuyên chở đá xây thành. Con đường phía Tây được lát đá xanh bằng phẳng từ bờ sông Mã đến cửa Tây còn có tên gọi “Bến Đá”. Gần đây, những hộ dân xung quanh đường còn giữ được những viên bi đá. Đá lấy từ nhiều nơi khác, chuyên chở bằng đường sông, đường bộ, chở bằng cộ (loại xe lớn có một bánh gỗ), chở bằng voi kéo, hoặc người ta dùng những viên bi đá cho khối đá khổng lồ trượt lên trên.
    Thành Tây Đô có 4 cửa : Đông, Tây, Nam, Bắc. Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa. Các mặt thành kỹ thuật ghép đá đạt đến trình độ cao. Những cổng thành được xếp các phiến đá theo hình múi cam, có kích thước rất lớn. Với hai cánh cửa dày, nặng và chắc được thể hiện qua dấu vết để lại của những lỗ đục vào đá và những chỗ lắp ngưỡng cửa. Xưa kia khi đóng, khi mở bởi những bộ cánh cửa gỗ có bánh xe lăn, then cài chốt ngang. Ba mặt thành: Đông, Tây, Bắc đều được xây một cửa cuốn vòm riêng, cửa Nam là cửa chính được xây ba vòm cuốn, vòm giữa xây to và cao hơn hai vòm bên. Hai cửa Đông, Tây đều xây rộng 5,8m; dài 13,40m. Những tảng đá được xây ở vòng cuốn này được đẽo công phu, phẳng ba mặt nhưng chỉ mặt dưới được tạo nên bề mặt ở vòm cửa và phần tiếp giáp gờ bờ thành. Riêng mặt trên đỉnh còn nhiều tảng nhấp nhô không thành hình khối gì. Nhân dân địa phương còn cho rằng, vì mặt cửa Đông, Tây có thể chưa làm xong hoặc hai cửa này không xây chòi canh nên không cần gia công kỹ.

     

     

    Ngoài tường thành Đông có một đền nhỏ thờ bà Bỉnh Khương. Đây là câu chuyện về một người quản công xây thành, do bà hàng nước ở cửa Nam kể. Anh này có vợ (trẻ) ở Nghệ An. Nhờ có gậy rút đường (một thứ phép “cân đẩu vân”) nên đêm đêm vẫn về nhà. Nhiều lần cứ đêm là thành đổ. Vua cho là anh ta làm phản, khép vào tội chết. Cô vợ biết tin, lên kinh đô đập đầu kêu oan cho chồng chỉ là “mất trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” thôi chứ không làm phản. Tội không kêu được mà nàng Bỉnh Khương đập đầu vào đá, mòn thành dấu hai bàn tay và vết lõm đập đầu, đến nỗi tử vong. Có giai thoại nói rằng người chồng bị đặt giữa bức tường thành phía Đông rồi cho đá đè lên, người vợ thương sót đã đập đầu vào bức tường và biến mất vào phiến đá đó. (NXB Kim Đồng)

    Cổng Bắc chỉ có một cửa nhưng được xây công phu hơn. Toàn bộ cửa Bắc dài 20m, rộng 12,7m. Hiện nay Vọng lâu tuy không còn nhưng qua vết tích nền móng để lại cho biết đây là hệ thống cấu trúc khung gỗ có mái che, cột lầu không kê chân tảng mà được cắm sâu xuống nền cửa 0,45m.

     

     

     


    Cửa phía Bắc


     

    Tường thành phía Bắc

     

    Cửa Nam là cửa chính, rộng 38m, cao hơn 10m, xây nhô ra tường thành phía ngoài 4m, ba vòm cuốn đều rộng 5,8m, vòm giữa xây cao hơn hai vòm hai bên 7,8m.

     

    Cửa phía Nam

     


    Tường thành phía Nam

      

     


    Tường thành phía Tây

     

    Cả ba cửa đều xây rộng 14m. Cửa nào cũng được đóng bằng hai cánh cửa gỗ dày và nặng, hiện còn gờ cửa. Ở trên đỉnh phía nam cũng là một nền được lát đá bằng phẳng. Những lỗ đục hiện còn cho biết lần cửa Nam này chắc chắn to và đẹp hơn cửa Bắc vì lầu cửa Nam này không chỉ mang chức năng của một lầu canh mà còn là bộ mặt của quốc đô, nơi nhà vua ngự mỗi lúc duyệt binh hay chủ trì các nghi lễ trọng đại. Nối liền với cửa Nam là con đường Hoa Nhai lát đá dài khoảng 2 km hướng về đàn tế Nam Giao được xây dựng vào tháng 8 năm 1402. Công trình này đã bị sập đổ hoàn toàn và cách đây 2 năm Viện khảo cổ kết hợp với Ban quản lý di tích, danh thắng tỉnh Thanh Hoá tiến hành khai quật khảo cổ học bổ sung những luận cứ đánh giá về triều Hồ cũng như góp phần soi sáng thế giới tâm linh cùng những hoạt động văn hoá cung đình của một triều đại phong kiến ngắn ngủi.
    Tây Đô độc đáo bởi tường thành được ghép bằng các khối đá khổng lồ nhưng vẫn mang nét chung của thành quách bấy giờ là thành được bao bọc bởi con hào vừa rộng, vừa sâu bao quanh, bốn mặt bên ngoài tường thành có rải chông. Thời gian, sa bồi đã lấp đầy hố sâu phòng ngự chủ động của công trình kỳ vĩ này. Dù vậy, cách thành vài km về phía Bắc có dãy đồi tạo thành tuyến phòng ngự thiên nhiên; phía Đông và phía Nam được phòng ngự bởi luỹ đất nối liền với đồi, phía Bắc được phòng vệ bởi dãy núi đá xa xa. Và còn đó thế sông Mã, sông Bưởi ngăn cách kéo vệt dài từ tây bắc qua phía nam và đông Thành Tây Đô. Bên cạnh đó, sử cũ chép “năm 1399, sai Trần Ninh đốc suất người phủ Thanh Hoá trồng tre gai ở phía Tây thành, phía Nam từ Đốn Sơn, phía Bắc từ An Tôn thẳng đến cửa Bào Đàm, phía Tây từ chợ Khả Lãng ở Vực Sơn đến sông Lỗi Giang, vây bọc làm La Thành”.
    Thành Tây Đô không chỉ nổi rõ vai trò Trung tâm quân sự, hơn thế nữa, nó là quốc đô của nước Đại Ngu triều Hồ. Kiến trúc chính trong nội thành, sách cũ còn cho biết : Nhà vua ngự triều ở điện Hoàng Nguyên, cung Nhân Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly) Đông cung, tây Thái Miếu, đông Thái Miếu, cung Phù Cực. Ngoài ra còn một số kiến trúc tuy không được ghi vào sử sách như nhà ngục, Ao Gạo, Ao Vàng, Đọi Đèn, cồn Súng Bắn v.v… Những kiến trúc ấy giờ đây không còn nữa nhưng tên gọi của nó còn ứng với từng thửa ruộng nông dân hiện nay đang cấy trồng. Những khoảnh đất cao nổi lên cân đối là nền móng của các công trình kiến trúc, lâu đài đồ sộ vẫn âm thầm nói với thế hệ hậu sinh nhiệm vụ của nó thuở ban sơ. Và Thành Tây Đô, di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu, công trình kiến trúc vững chắc, đồ sộ, độc đáo đang đệ trình UNESCO công nhận di sản văn hoá còn ôm trong mình những bí ẩn cần tiếp tục được nghiên cứu, khám phá và đầu tư thoả đáng cho công tác quản lý, bảo vệ, trùng tu, phát huy giá trị của di tích để nơi đây luôn là địa chỉ du lịch hấp dẫn bạn bè và khách thập phương.

     

    Đây là bản đồ khu di tích thành Nhà Hồ

     


    Bản Đồ Thành Nhà Hồ

     

    Đi qua thành, chúng ta ra cửa Nam, bạn hãy nhìn xa về phía Nam thành. Bạn sẽ thấy một ngọn núi, người dân ở đây gọi gọi là núi Voi. Tôi không rành lắm về phong thuỷ Tuy nhiên bạn về và hãy nhìn xem, thế ngọn núi này giống một con Voi phục hai chân trước gác vòi nằm. Nhưng một điều đánh nói là phần mông con Voi lại quay hẳn về phía thành. Đây là một trong những nguyên ngân dẫn đến sự suy vong của triều nhà Hồ. Không hiểu cụ Hồ Quý Ly giỏi thế sao lại chọn thế đất không thật mỹ mãn.


    Những bạn ở Hà Nội đến thăm thành Nhà Hồ có thể đi theo đuờng Hồ Chí Minh, qua rưừg Cúc Phương về địa phần huyện Cẩm Thuỷ Thanh Hoá sẽ có đường đi thẳng đến. Đi đường này các bạn có thể thăm được Suối cá Thần Cẩm Lương – Cẩm Thuỷ. Sẽ tiết kiệm đường hơn việc đi từ Thành Phố Thanh Hoá. Tuy nhiên nếu bạn muốn tắm biển Sầm Sơn thì lại nên đi qua thành phố Thành Hoá.
    Chúc các bạn bui vẻ!

     

  • Khu di tích lịch sử Lam Kinh: 

    Vị trí: Thành Lam kinh thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa 51km về phía tây.

    Đặc điểm: Được xây xựng bởi vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), thành Lam Kinh còn có tên là Tây Kinh.

    Nơi đây có lăng Lê Thái Tổ và bia Vĩnh Lăng mô tả ngắn gọn, cô đọng toàn bộ sự nghiệp của vua Lê Thái Tổ do Nguyễn Trãi biên soạn; Hựu lăng - Lăng vua Lê Thái Tông; Lăng Khôn Nguyên - Lăng Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Giao (mẹ Vua Lê Thánh Tông); Chiêu Lăng - Lăng vua Lê Thánh Tông; Dụ Lăng - Lăng vua Lê Hiến Tông; Kính Lăng - Lăng vua Lê Túc Tông; Đền Lê Lai.

    Từ thành phố Thanh Hóa, theo tỉnh lộ 15A đi về hướng tây 51km, du khách sẽ gặp chiếc "nôi vàng". Ðó là Lam Kinh, nơi bắt đầu của thời kỳ hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, gắn liền với bản anh hùng ca đánh đuổi giặc Minh, thu giang sơn về một mối. Lam Kinh nằm trên đất huyện Thọ Xuân, một huyện đã sinh cho dân tộc Việt Nam hai đời Lê (Tiền Lê, Hậu Lê) - vùng đất mà cách đây gần một ngàn năm cụ tổ của Thái Tổ Cao Hoàng đế Lê Lợi thấy chim bay về đậu quây quần thành bầy, quyết định san đất dựng nhà.

    Thành điện Lam kinh phía Bắc dựa vào núi Dầu (gọi là du sơn) mặt nam nhìn ra sông - có núi Chúa làm tiền án, bên tả là rừng Phú Lâm, bên hữu là núi Hương và núi Hàm Rồng chắn phía Tây. Khu Hoàng thành, cung điện và Thái miếu ở Lam Kinh được bố trí xây dựng theo trục Nam - Bắc trên một khoảng đồi gò có hình dáng chữ vương. Bốn mặt xây thành có chiều dài 314m, bề ngang 254m, tường thành phía Bắc hình cánh cung có bán kính 164m, thành dày 1m.

    Về Lam Kinh du khách sẽ được thưởng thức hương vị cay cay ngọt ngọt của chè lam Phủ Quảng, một loại bánh làm bằng bột gạo nếp, mật mía, trộn lẫn lạc và gừng và được nếm cái dẻo quạnh, đen nhanh nhánh của bánh gai Tứ Trụ, cái béo ngậy, giòn thơm của cá rô Ðầm Sét rán vàng; những sản phẩm nổi tiếng của Lam Kinh.

    Ở xứ Thanh nguời ta không nói "đến" Lam Kinh mà thường nói "về" Lam Kinh. Về nhà, về với khu di tích lịch sử, về với nơi khởi nguồn của những chiến tích hào hùng. Về Lam Kinh nơi diễn ra Hội thề Lũng Nhai. Một đêm năm Bính Thân (1416) 18 người con của đất nước hừng hực ý chí đứng trước đống lửa ngùn ngụt cháy, thề đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi.

    Lam Kinh là đây chiếc "nôi vàng" của những sự tích ngọc. Chuyện về một nhà sư già mách Lê Lợi táng linh xa vào mảnh đất hình quốc ấn. Thế đất xoáy ốc, trước mặt có núi Chiêu làm hương án, tả có núi Rồng chầu về, hữu có núi Hồ chầu lại, tay phải Hồ Thuỷ, tay trái Long Sơn liên kết như chuỗi hạt châu phát ngôi Thiên tử. Chuyện về cây gươm thần do Lê Thận, người dân chài lưới trên sông dâng tặng, 10 năm theo Lê Lợi tung hoành trận mạc, để rồi sau khi đất nước thanh bình trả lại Rùa vàng làm nên sự tích Hồ Hoàn Kiếm giữa lòng thủ đô. Chuyện về lá rau cải in hình quả Quốc ấn, người vợ Lê Lợi làm vườn bắt được quả ấn vàng có chữ Lê Lợi đề trên lưng ấn. Chuyện về cô gái áo trắng chết nằm bên sông hóa hồ ly đánh lạc hướng kéo đàn chó ngao cùng lũ giặc Minh chạy ra khỏi nơi Lê Lợi đang ẩn nấp, cứu nhà vua một phen thoát hiểm. Chuyện về Lê Lai, lãnh tụ thứ hai của nghĩa quân, một trong số mười tám người ở Hội thề Lũng Nhai, đổi áo bào, nhận cái chết về mình, liều mình cứu chúa.

    Hàng năm vào dịp tháng 8 âm lịch, lễ hội Lam Kinh lại bắt đầu. Ngày giỗ của Lê Lợi (22/8/1433) được cử hành trọng thể. Tiếng cồng chiêng âm vang rừng núi. Các điệu múa dân gian: Múa Xéc bùa, múa đèn Ðông Anh, múa rồng uyển chuyển bay lượn. Các trò chơi: Ném còn, dựng cây nêu, hát trò Xuân Phả náo nức lòng người.

  • Thái miếu nhà Hậu Lê: thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, có 27 thần vị và có nhiều hiện vật có từ thế kỷ 17, 18

     

    Cách trung tâm thành phố Thanh Hóa hai km về phía nam, có một di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp bằng di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật quốc gia - Thái Miếu nhà Hậu Lê.

     

    Đến đây, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng nhiều hiện vật có giá trị cao của nền mỹ thuật chạm khắc thế kỷ 17. Được lần theo từng viên ngói cổ, từng phiến đá, bâng khuâng hoài niệm về một vương triều kéo gần 400 năm. Mà còn được một người đã 20 năm gắn bó, góp công tôn tạo, giữ gìn khu di tích này, bà Lê Thị Thái, hậu duệ của vua Lê Hiển Tông.

     

    Thái Miếu thời vàng son

     

    Đền thờ nhà Lê còn gọi là Thái miếu nhà Hậu Lê ở làng Kiều Đại, nay là Quảng Xá, phường Đông Vệ (thành phố Thanh Hóa). Thái miếu được xây dựng năm 1428 tại Lam Kinh, Thọ Xuân, Thanh Hoá. Sau khi bị hoả hoạn, Thái miếu được chuyển về Thăng Long. Năm 1802, vua Gia Long cho dời tiếp về đây.

     

    Thái miếu nhà Hậu Lê là nơi đang lưu thờ tất cả bài vị của 27 vua ( 21 vua tại vị và 6 vua được truy phong) của nhà Hậu Lê (1418 – 1789) cùng các bà Hoàng thái hậu. Nơi đây còn thờ hai bậc công thần khai quốc là Nguyễn Trãi và Lê Lai.  Đặc biệt, còn có 6 bức tượng của Thần Tông Hoàng đế cùng năm bà phi quốc tịch khác nhau: Hà Lan, Mường, hai người vợ Chăm và một bà quê Kinh Bắc.

     

    Dưới thời phong kiến, tôn miếu gắn chặt với xã tắc là hai hình ảnh cao cả nhất. Những việc trọng đại của quốc gia thường được cáo ở Thái Miếu. Đất Bố Vệ là nơi phát tích các đời vua Lê Trung Hưng với Thái Miếu từ Thăng Long chuyển về khác hẳn với  các đền Lê bình thường khác. Từ đó, trở thành trung tâm tôn thờ của nhà Lê từ Lê Sơ đến Lê Trung Hưng cùng với các lăng mộ ở Lam Kinh thuộc xã Xuân Lâm, nơi phát tích của các vua thời Lê Sơ.

     

    Thái Miếu nhà Lê có vai trò quan trọng, năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long đã nói " Giữ việc thờ cúng Thái Miếu nhà Lê là một trọng điểm của triều đình". Người già nơi đây còn kể lại nhiều lần vua Bảo Đại, các quan tỉnh huyện, tới đây tế lễ và dâng hương.

     

    Nữ hậu duệ tâm đức

     

    Trải qua thời gian và qua hai cuộc chiến tranh, Thái miếu đã xuống cấp nghiêm trọng. Hiện, vườn cây trong Thái miếu còn lưu giữ “phế tích” của thời chống chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đó là khẩu pháo cao xạ, nòng dài hơn 2 mét.

     

    Trước khi có dự án tôn tạo, Thái Miếu chủ yếu dựa vào những tấm lòng nhân đức của những phật tử xa gần. Trong đó nổi lên tấm gương sáng là bà Lê Thị Thái. Năm nay bà Thái đã gần 90 tuổi, nhưng vẫn còn minh mẫn. Mặc dù hôm chúng tôi ghé thăm, bà đang phải uống thuốc.

     

    Giọng sang sảng, bà Thái khoe: "Tôi tự hào là con cháu của các vua Lê. Ông nội tôi là cụ Lê Duy Diệm, một bậc túc nho, dù chỉ hai lần đỗ tú tài nhưng cụ rất có uy tín trong giới sỹ phu đất Đông Sơn."

     

    Căn nguyên gì dẫn bà tới nơi này? Tâm thức của cụ trôi về khoảng thời gian cách đây 20 năm. Bà Thái kể: Nhà tôi ở đối diện với khu Thái Miếu. Trước đây, ngày lễ, chúng tôi đến đây dâng hương. Thời gian lớn tôi giành cho việc kiếm sống. Hồi ấy tôi đang làm ăn buôn bán phát đạt lắm.

     

    Một đêm, tôi nằm mơ thấy mình đi tới một quả núi to, dưới chân núi có con sông vừa dài, vừa rộng. Hàng trăm bậc tam cấp bước xuống dòng sông. Tôi bảo anh lái đò luồn lách qua những hang động. Trong hang toàn đồ thờ cúng, rực rỡ, chói lòa cả mắt. Tôi bừng tỉnh giấc mơ. Thấy điềm lạ, tôi tâm sự với một người bạn. Người bạn tôi nói nhiều tới những việc làm công quả.

     

    Ngay lập tức, tôi bỏ công việc làm ăn, dựng vợ, gả chồng cho con cái đàng hoàng và vào đây ở từ đó đến bây.

     

    Bà Thái tiếp tục nhớ lại: " Hồi năm 1990, ông chủ tịch xã Nguyễn Thế Sơn cho tôi một cái giấy chứng nhận để tôi đi xin công đức". Bắt đầu từ ấy, người dân quanh khu vực thấy bà Thái nay đây, mai đó đi nhiều nơi, nhiều cửa xin công đức.

     

    Ông Nguyễn Hữu Thọ, Hội người cao tuổi xã nhớ lại: "Sau chiến tranh chống Mỹ, Thái miếu dột nát quá nhiều, gỗ trong đền mục nát, cửa gãy, ngói vỡ, bên trong chỉ còn vài pho tượng lăn lóc. Bên ngoài không có hàng rào, trâu bò vào tàn phá. Từ khi có chủ trương của Nhà nước tu sửa lại các di tích văn hóa, địa phương cũng đã đứng ra tu bổ nhưng làm không đến nơi đến chốn. Đến khi bà Thái xuất hiện, bà đã vận động  bà con thôn xóm thường xuyên vào cúng lễ, quyên góp mọi người cùng xây dựng lại từ đống đổ nát".

     

    Ngày nay, được chiêm ngưỡng tượng đồng Thái Tổ Lê Lợi, tôn nghiêm ngự trong Long Cung, tượng đồng Lê Lai, Nguyễn Trãi đường bệ đầy oai vũ, quả chuông nặng ba tạ từ đồng đúc năm 1991, mới thấy công lao đóng góp của bà Thái thật to lớn. Tượng vua Lê Thần Tông cùng năm bà vợ từ chỗ sứt sẹo, mắt, bụng thủng trở nên lành lặn, rực rỡ. Các bộ kích, bộ kiệu, lư hương, lục bình, đèn cầy có được cũng là nhờ vào sự tần tảo của bà Thái và tấm lòng của phật tử xa gần.

     

    Những nỗ lực của bà Thái và những người có tâm đức đã được đền đáp.  Thái Miếu nhà hậu Lê đã được Nhà nước công nhận di tích cấp quốc gia. Bản thân bà Thái được trao tặng Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa thông tin năm 2004.

     

    Những ngày cuối tháng 12-2007, Sở VHTT Thanh Hóa đã khởi công công trình thuộc dự án tu bổ, bảo quản thái miếu nhà Hậu Lê. Dự án tu bổ, bảo quản thái miếu nhà Hậu Lê gồm: tu bổ, bảo quản tiền điện và nghi môn; phục hồi tả vu - hữu vu; tu bổ, phục hồi các đồ thờ, đồ tế tự; các hạng mục phụ trợ di tích như cảnh quan, sân, đường, cây xanh...Dự án sẽ được thực hiện đến năm 2010 với tổng kinh phí hơn 41 tỉ đồng.

     

    Ngày nay, dù tuổi cao sức yếu và vẫn cùng tám cộng sự có tâm huyết ngày đêm chăm nom, coi sóc Thái Miếu. Giữa công trường ngổn ngang, gương mặt rạng rỡ, bà Thái tự hào, giơ cao tấm huy chương trước ngực: " 20 năm, tôi đi khắp nơi nhưng chưa thấy một người thủ từ, giữ miếu nào là đàn bà. Tôi tự hào lắm. Ngày đêm tôi chỉ tâm niệm, cầu mong có sức khỏe chờ tới ngày nhìn thấy khu Thái Miếu được khánh thành là tôi nhắm mắt được rồi. Bây giờ Nhà nước đã quan tâm và đầu tư, Thái Miếu là của Nhà nước, quốc gia. Giờ tôi chỉ giúp Nhà nước trông coi đến khi nào nhắm mắt, xuôi tay".


  • Đền Bà Triệu, huyện Hậu Lộc.

    Đền Bà Triệu thuộc làng Phú Điền xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa. Nơi đây là nguồn sử liệu sống động minh chứng cho cuộc khởi nghĩa chống quân Đông Ngô thế kỷ thứ III của Triệu Thị Trinh – một nữ anh hùng dân tộc, một người con của huyện Quan Yên, quận Cửu Chân nay thuộc huyện Yên Định.

     


    Cổng ngoại đền Bà Triệu – được làm bằng chất liệu bằng đá khối

    Để tưởng nhớ công lao to lớn của Bà Triệu, nhân dân đã xây lăng, dựng tháp trên đỉnh núi Tùng – nơi người nữ anh hùng dân tộc họ Triệu đã ngã xuống tại vùng đất lịch sử này. Đền thờ dựa lưng vào sườn núi, nằm sát lề phía Đông đường Quốc lộ 1A bên trái đường theo hướng từ Hà Nội vào. Ở phía Bắc cách đền Bà Triệu khoảng gần 1km là làng xóm trù mật, đông vui trong đó có ngôi đình làng Phú Điền cũng thờ Bà Triệu với danh nghĩa Thành hoàng làng. Khu di tích Bà Triệu đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (Đền thờ và Lăng tháp được công nhận ngày 29/4/1979 còn đình làng Phú Điền được công nhận ngày 13/2/1996).


    Hồ nước hình chữ nhật trong khuôn viên đền

    Đền thờ Bà Triệu có lịch sử đã lâu đời, lúc mới khởi dựng chỉ có 3 gian gỗ lợp bằng tranh, bên trong có một bệ thờ Bà Triệu. Đến thời tiền Lý (549 – 602) vua Lý Nam Đế trong một lần kéo quân vào Nam tiễu trừ phong kiến Lâm Ấp đã nghỉ tại làng Bình Lâm (thuộc xã Hà Lân, huyện Hà Trung bây giờ). Vua Lý Nam Đế đã đến thăm đền và cầu xin giúp đánh thắng giặc. Khi chiến thắng trở về, Lý Nam Đế đã phong cho Bà làm thần và cấp tiền cho dân làng sửa sang ngôi đền…


    Cổng tam quan

    Sau rất nhiều lần trùng tu qua các thời kỳ, đến nay đền Bà Triệu được xây dựng theo hình thức kiến trúc truyền thống vùng đồng bằng Bắc Trung Bộ trên diện tích gần 4ha với cổng ngoại, hồ nước hình chữ nhật, bình phong, cổng nội, tả hữu mạc, tiền đường, trung đường và hậu cung.

    Cụ thể ở cổng ngoại, được xây dựng theo lối kiến trúc cổng tứ trụ chất liệu bằng đá khối, tường chạm nổi hình voi ở hai bên. Các ô hộc ở trụ cổng và tứ trụ chạm hình long, ly quy, phượng, bốn mặt liền khối đá thân trụ, các đầu trụ được trang trí bằng phượng và nghê. 

    Sau khi bước qua cổng ngoại, chúng ta sẽ bắt gặp hồ nước rộng lớn, được biết hồ nước được tôn tạo trên cơ sở hồ cũ chỉ xây dựng thêm lan can và bậc lên xuống hồ. Tiếp tục tiến vào khuôn viên đền Bà Triệu, qua bình phong bằng đá khối, miếu thờ trước cổng nội chúng ta bước qua cổng tam quan. Được xây bằng gạch, hai tầng cửa giữa, một tần ở hai cửa bên, hai tầng mái - trước cổng nội được đặt 2 tượng nghê đá cổ uy nghiêm.

    Sau khi dâng hương tại nơi thờ, chúng ta có thể đến nhà tả, hữu Mạc uống nước thả tâm hồn dạo chơi quanh sân Thiên Tĩnh và phóng tầm mắt ngắm cảnh phía trước cổng nội. Nhìn ra xa là một vùng cây cối xanh tươi, phía dưới là Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam chạy ngang qua trước đền. Núi Tùng với lăng Bà Triệu trên đỉnh ẩn hiện trong áng mây vờn, làng Phú Điền nổi lên giữa biển lúa mênh mông…


    Từ trên núi Tùng chúng ta có thể bao quát được toàn bộ không gian

    Bên cạnh những nét kiến trúc độc đáo, đến với đền Bà Triệu chúng tôi còn được biết nơi đây còn là nơi lưu giữ nhiều hiện vật quý hiếm và một kho tàng các sự tích, huyền thoại, câu đối, ca dao, thơ…Nhiều cổ vật được lưu giữ ở nơi đây như 10 cuốn thần phả viết bằng chữ hán, 65 đạo sắc phong qua các triều đại…và còn rất nhiều điều chúng tôi chưa thể nói hết. Tất cả xin dành cho du khách, hãy đến và cảm nhận.

  • Đền thờ Lê Hoàn, huyện Thọ Xuân.



    Đền nằm trên địa bàn làng Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, thờ vua Lê Đại Hành - người khởi nghiệp triều Tiền Lê, có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược, giữ gìn bờ cõi nước Đại Việt.

    Đền có kiến trúc chữ “công”, trên nóc tiền đường có 10 con nghê bằng đất, được nung thành sành, màu đen, tựa đồng hun. Ở điểm chót của mỗi đầu đao đều gắn một con trong dáng ngồi thu gọn như đang chầu. Đền Lê Hoàn là công trình kiến trúc thế kỷ XVII còn được bảo tồn tương đối hoàn chỉnh. Đến với đền thờ Lê Hoàn là dịp du khách được chiêm ngưỡng nghệ thuật trang trí mang phong cách dân gian với hệ thống nghê bằng đất nung, rồng chầu,… được chạm khắc phô diễn trên vì nóc và các cửa,  bức bàn.


  • Khu di tích lịch sử Phủ Trịnh và chùa Báo Ân, đã được xếp hạng cấp quốc gia.

     

    Phủ Trịnh - Nghệ Vẹt là nơi Chúa Trịnh xây dựng phủ ở quê để thờ cúng và nghỉ ngơi. Phủ Trịnh là một di tích còn lại của thế lực Chúa Trịnh trong triều đại phong kiến Nhà Lê đàng ngoài.... 
    Trước đây Phủ Trịnh được xây dựng trên một vùng đất rộng hàng chục mẫu, có tứ phủ: nơi Chúa làm việc, tiếp khách, khu nội phủ là nơi ở của Chúa, khu làm việc của các quan, khu thờ cúng, hồ thưởng ngoạn. Ngày nay chỉ còn lại ngôi nhà ngói 7 gian ( trước đây là khu bếp) có các bài vị, câu đối, các minh khí, các con giống bằng gỗ

     

    Nghè Vẹt cách đó 500m, là một khu nhà gỗ 12 gian còn nguyên vẹn, nguyên là thờ thành hoàng làng, sau chuyển sang thờ các Chúa Trịnh.   Nghè vẹt là khu nhà bằng gỗ - có 12 gian thờ 12 bài vị của 12 vị chúa Trịnh. Đến nay khu di tích này hầu như còn nguyên vẹn.

     

    Ở Nghè Vẹt, mỗi cột đều có tượng Vẹt cao lớn chầu về ban thờ Tổ. Thần Vẹt vươn cao, chân Vẹt dài như chân Hạc và cũng đứng trên mai rùa. Dưới chân mỗi tượng Vẹt đều có tượng Phỗng Chăm Pa bái chầu. Đầu kiệu và cáng thờ, ngày xưa đều trạm trổ đầu Vẹt. Thời xưa quanh Dương cơ và Phủ Chúa ở Thăng Long nuôi rất nhiều Vẹt. Vẹt là linh vật của dòng Trịnh Vương, mang ý nghĩa độc đáo và sâu sắc. Danh Y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (quê xã Liên Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên) từ xã Tình Diễm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh được chúa Thịnh Vương Trịnh Sâm vời vào phủ chúa Trịnh ở Thăng Long, chữa trị cho Vương tử Trịnh Cán. Năm 1782 ông viết tác phẩm Thượng Kinh ký sự (ghi chép những sự việc lần đầu tiên đến Kinh Đô) trong đó có bài thơ  Đáo vương phủ, thuật hoài. Bài thơ của ông miêu tả cảnh lộng lẫy cung son, hương hoa ngào ngạt và cả âm vang tiếng Vẹt.

     

     Lầu son gác tía mây lồng biếc

     

    Hiên ngọc rèm châu ánh rọi hồng,

     

    Tiếng vẹt trong vườn đòi đoạn cất

     

    Hương hoa bên điện ngạt ngào xông.


  • Khu lăng miếu Triệu Tường

    Năm 1545, khi Nguyễn Kim mất được đưa đến án tang tại núi Thiên Tôn. Năm 1803 vua Gia Long cho xây gần đó một miếu 3 gian 2 chái thờ Nguyễn Kim và để thờ vọng Nguyễn Hoàng (1558 – 1613). Miếu được đặt tên là Nguyên miếu (sau còn gọi là miếu Triệu Tường). Cạnh đó còn có miếu thờ Trừng Quốc Công thân phụ Nguyễn Kim.
     Năm 1808, Gia Long đặt tên cho khu mộ Nguyễn Kim là lăng Trường Nguyên (lăng này không có dấu vết rõ ràng nên chỉ xây nên một nền vuông để bái yết và cúng tế).
       Năm 1822, Minh Mạng cho cho dựng ở lăng Trường Nguyên một tấm bia khắc ghi bài minh và ngự chế như sau:


        “Đất lớn chúa thiêng sinh ra Triệu tổ,
          Vun đắp cương thường nêu rạng thánh võ.
          Nghĩa động quỷ thần công truyền vũ trụ,
          Cõi trần rời bỏ lăng ở bái trang.
          Non nước bao bọc sấm mắt tùng xanh,
          Khí thiêng nhóm họp đời đời xưng vinh.
          Mệnh trời đã giúp con cháu tinh anh,
          Võ công dựng nước bèn tìm gốc nguồn.
         Tuy tôn dựng miếu lăng gọi Trường Nguyên,
         Tân tuy bắc tuần đến đây dựng lại.
         Trông ngắm non sông nhớ đến gốc cõi,
          Khắc chữ vào bia lưu ức vạn tài.


       Khu di tích lăng miếu Triệu Tường được xây dựng trên một cánh đồng bằng phẳng dưới chân núi Triệu Tường thuộc làng Gia Miêu – xã Hà Long, nằm cạnh đường 7 đi về miền tây đến huyện Thạch Thành.
     Toàn bộ kiến trúc của khu vực Lăng miếu Triệu Tường ngày nay, chúng ta biết được chỉ còn dựa vào tài liệu của các nguồn sử cũ.
        Sách “Niên giám Đông Dương” năm 1901 viết : “ Làng Quý Hương, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung có tiếng là cái nôi của triều đại đương thời. Các miếu tháp thờ cúng các vị tiên vương được xây dựng ở đây, có tường gạch bao quanh, tường được giữ phòng bằng lũy, làm đúng như một tòa thành nhỏ, đó là Tôn Thanh hay còn gọi là Triệu Tường”.
       Sách “Đại nam nhất thống chí” chép: “Lăng Trường Nguyên của Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế bản triều. Ở núi Triệu Tường huyện Tống Sơn. Tĩnh Hoàng Hậu cũng hợp táng ở đây. Năm Gia Long thứ 5 dâng tên là Trường Nguyên; năm Minh Mệnh thứ 3 ngự chế bài minh và năm Thiệu Trị thứ nhất ngự chế bài thơ, điều khắc vào bia, dựng đình ở phía tả lăng”.
       Về quy mô cấu trúc . Toàn bộ chu vi thành Triệu Tường là 182 trượng, bao quanh thành có hào nước, có cầu gạch bắc qua, lại có hai lớp lũy bao bọc (lũy ngoài xây dựng vào năm Minh Mệnh thứ 16 – năm 1835) có bốn cửa trổ theo bốn phương, ở cửa nam có một vọng lâu, lũy trong được xây dựng năm 1834, có 3 cửa đông – tây – nam . Cửa nam là một cổng Tam Quan và phía sau có hồ bán nguyệt. Phạm vi lăng trong được chia làm 3 khu vực. Khu vực chính là Nguyên miếu (miếu thờ Nguyễn Kim và Nguyễn Hoàng); khu vực bên đông là Trừng Quốc Công (miếu thờ cha Nguyễn Kim); khu vực bên tây là trại lính và nhà ở của các gia nhân coi lăng (đây là khu vực phụ) có hai viên quan thuộc dòng tôn thất được cử ra coi lăng gọi là Chánh sứ và Phó sứ có thêm hai thuộc quan nữa giúp việc: một diện sứ và một miếu thừa.
        Khu vực Nguyên miếu nằm trong thành Triệu Tường là khu trung tâm “được xây dựng năm Gia Long thứ 2 (1804). Miếu chính và miếu trước đều 3 gian, 2 chái. Gian chính giữa thờ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế, gian bên tả thờ Thái Tổ - Gia Dụ Hoàng Đế (Nguyễn Hoàng), đều hướng về Nam, hàng năm gặp tiết ngũ hương và các tiết khác đều tế theo lệ các miếu ở kinh, quan tỉnh khâm mạng làm lễ.”
        Trang trí và sắp đặt trong Nguyên miếu được mô tả trong sách “Thanh Hóa đẹp như tranh” của H.Le Bretsin như sau: “Trước các bài vị có kê hai cái sập chạm rồng. Bên trái và bên phải là hai rương quần áo thờ. Mỗi lần vua Nguyễn về Nguyên miếu đều cúng tế theo đúng mọi nghi lễ quy định. Người ta trải lên bức sập trong cùng một chiếc chiếu hoa. Trên chiếu hoa lain trải chiếu son để bầy các món ăn. Rồi tiếp đến là hai bàn thờ. Trên bàn thờ phía trong những ngày cúng kị bằng các mâm quả, các cây đèn thiếp, trên bàn thờ phía ngoài bầy ngũ sự bằng thiếp, những lọ hoa, hai con hạc gỗ, sơn son thiếp vàng, hai khay vàng giấy để sau khi lễ xong thì đem đốt. Khoảng giữa hai bàn thờ là những cái bàn để dâng bò, dê, lợn cúng tế. Khi nhà Vua đến cúng bái thi trải một cái chiếu trước bàn thờ ngài.”

  • Phủ Na 

     

    Phủ Na hay còn gọi là Na Sơn Động Phủ, nằm trên địa bàn xã Xuân Du, huyện Như Thanh, là nơi có cảnh sắc tươi đẹp với gió núi, mây ngàn, suối reo, thác đổ, rừng đại ngàn âm u chứa đựng biết bao huyền tích lung linh kỳ ảo. Không gian Phủ Na với rất nhiều đền miếu phối hợp thờ nhiên thần và nhân thần, nhưng nổi bật bao trùm lên tất cả là thờ mẫu: mẫu Thượng Ngàn- Bà Triệu- công chúa Liễu Hạnh.

     

    Hằng năm cứ vào mùa Xuân bắt đầu từ ngày mùng 1 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch và  mùng 1 đến 16 tháng tám (âm lịch) đông đảo nhân dân trong vùng và du khách thập phương ở khắp nơi lại trở về vừa để thắp hương tưởng nhớ những người có công, đồng thời mong muốn cầu may cầu mát, mùa màng tốt tươi, nhân khang vật thịnh, gia đình khoẻ mạnh. Trong lễ hội, các nghi thức cúng tế mang đặc điểm tín ngưỡng thờ Mẫu được thể hiện đậm nét. Bên cạnh hoạt động tế lễ, các hoạt động văn hoá văn nghệ, trò chơi trò diễn dân gian cũng được địa phương tổ chức góp phần làm sinh động cho lễ hội. Lễ hội Phủ Na đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân xứ Thanh mỗi độ Tết đến, Xuân về.


  • Khu di chỉ, khảo cổ văn hóa Đông Sơn.

     

    Nguồn gốc, khái niệm và đặc trưng văn hoá Đông Sơn

     

    Đông Sơn là tên một làng nằm ở bờ sông Mã, cách cầu Hàm Rồng khoảng 1km về phía thượng nguồn (thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá). Năm 1924, người nông dân tên gọi Nguyễn Văn Lắm ở làng Đông Sơn khi ra bờ sông Mã câu cá đã tìm thấy một số đồ đồng ở nơi bờ sông sạt lở. Viên thuế quan người Pháp tại tỉnh Thanh Hoá tên là Pajot - một người say mê nghiên cứu lịch sử Đông Dương và phong tục tập quán của Việt Nam đã mua những đồ đồng đó và đem đến trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) để xác định giá trị. Được sự ủy quyền của Giám đốc EFEO thời đó, từ năm 1924 đến 1932, viên quan Pajot tiến hành khai quật ở Đông Sơn và thu được nhiều hiện vật có giá trị. Năm 1929, với những hiện vật thu được ở Đông Sơn kết hợp với những di vật do các nhà nghiên cứu của Pháp tìm thấy ở lưu vực sông Hồng, các học giả về Đông Nam Á ở trên thế giới đã biết về “Thời đại đồng thau ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ” (bài viết của Gloubew). 
    Năm 1934, R.Heine Geldern, một nhà nghiên cứu người Áo lần đầu tiên đề nghị định danh nền văn hoá đó là “Văn hoá Đông Sơn”. Cùng với Gloubew (1929), Geldern coi Văn hoá Đông Sơn có vai trò của “văn hoá mẹ” đối với toàn vùng Đông Nam Á. Những di vật Văn hóa Đông Sơn đã được người dân Việt Nam biết đến từ lâu, nhưng từ năm 1934, thuật ngữ "Văn hóa Đông Sơn" bắt đầu mới có chính thức.

     


    Công cuộc tìm hiểu, nghiên cứu Văn hóa Đông Sơn của các nhà nghiên cứu Việt Nam thực sự bắt đầu từ sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Năm 1957, học giả Đào Duy Anh coi Văn hoá Đông Sơn là văn hoá đồ đồng và là văn hoá của người Lạc Việt được coi là tổ tiên của người Việt-Mường. Dưới ánh sáng của những phương pháp nghiên cứu mới, thông qua việc phúc tra lại những di tích và thẩm định lại những sưu tập hiện vật, các nhà khảo cổ Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của Văn hóa Đông Sơn trong tiến trình lịch sử dân tộc. Nhận thức đó càng được củng cố qua các hội nghị nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương trong thập kỷ 60-70 của thế kỷ XX.

     


    Dưới góc độ nghiên cứu khảo cổ học và dân tộc học, Văn hoá Đông Sơn là một nền văn hoá thời đại kim khí cách ngày nay khoảng 2000-2500 năm, có nguốn gốc bản địa với địa bàn phân bố rộng (từ biên giới phía Bắc đến tỉnh Quảng Bình ở Bắc Trung Bộ) và bao gồm nhiều nhóm di tích có niên đại sớm, muộn khác nhau.

     


    Văn hoá Đông Sơn ra đời và phát triển rực rỡ dựa trên nền tảng của cả một quá trình hội tụ lâu dài từ những nền văn hoá trước đó. Nguồn gốc cơ bản để hình thành nên Văn hóa Đông Sơn đó là các giai đoạn "Tiền Đông Sơn" từ Phùng Nguyên, Đồng Đậu đến Gò Mun. Văn hóa Đông Sơn có mối liên hệ mật thiết với các nền văn hoá phát triển cùng thời trên đất nước như văn hoá Sa Huỳnh (ở Trung Nam Bộ) và văn hoá Đồng Nai (ở lưu vực sông Đồng Nai). Văn hoá Đông Sơn còn được coi là trung tâm phát triển của Đông Nam Á, có mối tương quan với các trung tâm phát triển trong khu vực như trung tâm Đông Bắc (Thái Lan), trung tâm Điền (Vân Nam, Trung Quốc).

     


    Chính vì vây, đặc trưng cơ bản của Văn hoá Đông Sơn là tính thống nhất trong đa dạng. Đỉnh cao của Văn hoá Đông Sơn là nghệ thuật đúc đồng Đông Sơn mà ở đó, người Việt đã hoàn toàn làm chủ nguyên liệu và công nghệ chế tạo đồng thau. Đồ đồng đúc có mặt trong toàn bộ đời sống vật chất tinh thần của người Đông Sơn. Kỹ thuật luyện kim và đúc đồng thời này đã đạt đến trình độ hoàn mỹ. Đồ đồng thuộc Văn hóa Đông Sơn không thể lẫn với bất cứ nền văn hóa khảo cổ nào khác trên thế giới. Trống đồng là loại di vật điển hình nhất của Văn hóa Đông Sơn.

     


    Trống đồng chính là một linh vật của người Việt cổ được sử dụng trong các lễ hội, nó còn là một bộ sử bằng hình ảnh khi chữ viết chưa phát triển. Trống đồng Đông Sơn có quy mô đồ sộ, hình dáng cân đối, thể hiện trình độ cao về kỹ năng và nghệ thuật. Trống đồng thể hiện tín ngưỡng, cuộc sống sinh hoạt của người Việt cổ. Có hai loại hoa văn không thể thiếu trên mặt tất cả các trống đồng Đông Sơn là hình Mặt Trời với số cánh chẵn 12, 14, 16 hoặc 18 cánh và Chim Lạc (xuất phát từ việc cư dân Việt cổ gắn với văn minh lúa nước do đó thờ thần mặt trời và những loài chim gắn bó với đồng ruộng). Điều đó giúp chúng ta hiểu thêm về đời sống vật chất và tâm linh của dân cư bản địa thời Đông Sơn. 
    Qua quá trình nghiên cứu, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã chia sưu tập hiện vật Văn hóa Đông Sơn làm các loại chính sau:

     


    - Vũ khí: Rìu, giáo, lao, dao găm, búa chiến, mũi tên, hộ tâm phiến...

     

    - Công cụ sản xuất: Rìu, lưỡi cày, cuốc, lưỡi dao gặt...

     

    - Đồ dùng sinh hoạt: Thạp, thố, bình, khay, đĩa, chậu, âu, muôi, thìa...

     

    - Nhạc cụ: Chuông, trống, lục lạc...

     

    - Đồ trang sức: Vòng, khuyên tai, hạt chuỗi, trâm, khóa thắt lưng...


  • Khu di tích Hàm Rồng: gồm cầu Hàm Rồng (một biểu tượng thời Chiến tranh Việt Nam), đồi Quyết Thắng.

    Hàm Rồng thuộc địa phận phía Bắc thành phố Thanh Hoá, đây là một trong những thắng cảnh nổi tiếng từ thời tiền sử, đồng thời cũng là một địa danh ghi dấu lịch sử oai hùng của dân tộc ta.

     

    Dòng sông Mã bắt nguồn từ dãy núi Pu Va ở Tây Bắc Tổ quốc hùng vĩ có độ cao trung bình 400 m so với mặt nước biển. Bình thường nước sông chảy đã mạnh, mùa mưa lũ càng thêm dữ dội. Cũng từ hướng đó, dãy núi Đông Sơn hùng vĩ, cái nôi của nền văn hoá đồng thau Đông Sơn, núi tiếp núi như một con rồng uốn mình vươn tới. Sông núi đến đây gặp nhau làm thành cái thế "Long Mã tranh châu". "Châu" ở đây là ngọn Châu Phong (thường gọi là núi Ngọc hoặc núi Nít) ở bờ Bắc sông Mã. Bờ Nam là núi Đầu Rồng (thường gọi là Long Hạm hoặc Hàm Rồng) với hai cửa hang như hai con mắt đau đáu nhìn sang núi Ngọc. Ngựa và Rồng đuổi Ngọc đến đây, con rồng vừa há miệng ra đớp ngọc thì đuôi ngựa đã quật ngang cho ngọc rơi xuống sông. Chính vì vậy dưới đáy sông Mã ở đoạn này là cả một ngọn núi đầy hang huyệt. Con ngựa chăn ngọc ở bờ Bắc, con rồng nằm phục ở bờ Nam. Ca dao xưa có câu:

     

    Thanh Hoá thắng địa là nơi

     

    Rồng vờn hạt ngọc, hạc bơi chân thành.

     

    Thời Lê năm 1078, vua Lê Thánh Tông về thăm quê Thanh Hoá. Người đã cho dừng thuyền ngoạn cảnh Hàm Rồng. Người men theo sườn núi vào động Long Quang rồi lên đỉnh núi Đầu Rồng ngây ngất ngắm nhìn một vùng non nước và cảm hứng:

     

    "Đây núi kia rừng, tiên phật quá

     

    Như mời du khách đến cùng say".

     

    Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc, nhà văn hoá kiệt suất năm 1430 tháp tùng vua Lê Lợi về thăm viếng quê Thanh, lúc trở ra Thăng Long, có dừng chân ở Hàm Rồng (lúc đó tên là Long Đại) ông rất chú ý đến cảnh sắc thiên nhiên của sông núi ở đây và đã làm bài thơ bằng chữ Hán "Long Đại Nham":

     

    Khử niên hổ nguyệt ngạc tằng khuy

     

    Long Đại kim quan thạch huyệt kỳ

     

    Ngao phụ xuất sơn, sơn hữu động

     

    Kình du tắc hải, hải vị trì

     

    Hồ trung nhật nguyệt thiên nan lão

     

    Thế thượng anh hùng thử nhất thì

     

    Lê, Phạm phong lưu ta tiệm viễn

     

    Thanh đài bán thực bích gian thỉ.

     

    Tạm dịch:

     

    Năm xưa mình đã dòm hang cọp

     

    Nay ngó non, Rồng cảnh lạ sao

     

    Ngao nổi đôi non, non có động

     

    Kình bơi lấp biển, biển thành ao

     

    Trong bầu ngày tháng còn vui mãi

     

    Một thuở anh hùng trở lại đâu

     

    Lê, Phạm phong lưu ôi đã vắng

     

    Thơ đề vách đá nửa xanh rêu.

     

    Ông đã khắc hoạ nét hùng vĩ của Hàm Rồng, xem đó là một kỳ công của tạo hoá từ thuở khai thiên lập địa. Ông đã khai thác kho tàng huyền thoại để minh hoạ cho ý thơ của mình. Truyền thuyết nói rằng: Núi Hàm Rồng vốn là một ngọn núi tiên, chỗ ở của các vị thần thánh trên thượng giới. Nhưng quả núi này chân không gắn chặt với đáy biển, cứ bồng bềnh trên mặt nước mênh mông. Do đó, thượng đế phải sai mấy con ngao đến đội núi lên để giữ cho vững. Núi đã vững nhưng chung quanh vẫn còn là biển lớn, chưa tiện cho sự đi lại nên Thượng đế lại sai những con kình quẫy khúc làm cho nổi đất lên, tạo ra một khoảng đất bằng chung quanh núi. Biển bị lấp còn một ít chỗ không lấp hết trở thành ao. Đó là nội dung hai câu thơ 3 và 4. Bài thơ còn nhắc đến những chiến công lẫy lừng trong quá trình dựng nước và giữ nước như năm 1382, Hồ Quý Ly đã thắng quân Chiêm Thành trong một trận kịch chiến ở đây. Ngoài ra, tác giả còn nhắc đến những học giả có tiếng tăm thời Trần: Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, những người đã đề thơ ở động Long Quang.

     

    Xưa kia, khi chưa có cầu, nhân dân hai bờ qua lại bằng đò ngang. Đầu thế kỷ 20, C.A Ra Gông - một chuyên gia về cầu ở Đông Dương, khi khảo sát để bắc cầu, đã nêu ra những cái khó ở đoạn sông Hàm Rồng: đáy sông đầy hang huyệt, nên không thể xây trụ giữa được, lũ lụt hàng năm không cho phép kéo dài thời gian thi công trên mặt nước (trước đó, cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp thuê kỹ sư Đức bắc cầu có trụ ở đây, cầu chưa xong đã bị lũ lớn cuốn mất, ông kỹ sư người Đức đã nhảy xuống sông tự vẫn). Chính vì thế thực dân Pháp phải xây cầu treo, hai kỹ sư người Pháp là Đay - Đê và Pillê thiết kế, chỉ đạo thi công, cầu treo gối lên sườn hai ngọn Châu Phong (bờ Bắc) và Mắt Rồng (bờ Nam). Cầu treo hình cánh cung bán nguyệt thi công trong 4 năm (1904 - 1908). Khẩu độ hẹp ô tô và tàu hoả không thể qua một lúc được. Chiếc cầu cánh cung xưa và cầu thép có trụ hiện nay là điểm trung tâm của toàn cảnh Hàm Rồng.

     

    Thi sĩ Tản Đà có bài cảm tác "Qua cầu Hàm Rồng":

     

    … Hàm Rồng nay lại qua Thanh

     

    Dưới cầu nước biếc in hình thi nhân …

     

    và khi ở xa Hàm Rồng, thi sĩ còn viết:

     

    Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây …

     

    Kháng chiến chống Pháp, năm 1946, quân dân ta phá sập chiếc cầu cánh cung do Pháp xây dựng. Hoà bình lập lại, năm 1961, đội cầu Trần Quốc Bình (Trung Quốc) thiết kế cầu mới có trụ và cán bộ công nhân ta thi công. Cầu vẫn được đặt trên hai hố cũ, nhưng có trụ giữa bằng 12 trụ ống, mỗi trụ đường kính xoáy sâu. Tháng 06 năm 1963, chiếc cầu hữu nghị được thông xe. Cầu mới dài 168 mét, chắc chắn hơn, to đẹp hơn, trọng tải lớn hơn cầu cũ nhiều. Đó là một kỳ công của kỹ sư và công nhân ta.

     

    Kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, chiếc cầu đó đã làm giảm uy lực của không quân Hoa Kỳ, 117 máy bay tối tân của Mỹ đã bị quân dân ta bắn cháy, vùi xác dưới đáy sông. Sau những ngày mưa bom bão đạn, cầu Hàm Rồng vẫn đứng hiên ngang, nối liền hai bờ Bắc Nam cho đến ngày đất nước toàn thắng, Nghĩa trang liệt sĩ linh thiêng sườn đồi Quyết thắng ngày đêm hương khói tưởng nhớ những liệt sĩ anh hùng đã hy sinh bảo vệ non nước này. Một chính khách nước ngoài đến thăm Hàm Rồng đã phải thốt lên: "Thật kỳ lạ, trong lịch sử chiến tranh phá hoại bằng không quân trên thế giới, chưa có chiếc cầu nào được bảo vệ lâu đến như vậy". Cây cầu thép hiện nay đang sử dụng đã được các kỹ sư Việt nam sửa lại năm 1974, hàng ngày vẫn soi bóng xuống lòng sông chói ngời dấu ấn chiến thắng.

     

     

     

    Mảnh đất kiên cường ấy đã ghi nhiều kỳ tích trong chiến đấu và xây dựng là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh.

     

    Có nhà thơ đã nói:

     

    … Đất này là đất Hàm Rồng

     

    Đi qua bom đạn vẫn hồng sắc xuân …

     

    Huy Cận, nhà thơ lớn, đã nói về mảnh đất địa linh nhân kiệt này:

     

    … Cánh chim Lạc Việt bay từ thuở ấy,

     

    Nâng ta lên cánh én ngày nay.

     

    Đánh quỷ Mỹ với bốn ngàn năm dựng nước

     

    Đồng, Đông Sơn là xương cốt núi sông này.

     

    Và cho đến nay, Hàm Rồng còn ghi thêm kỳ tích bắc cầu Hoàng Long cách cầu cầu Hàm Rồng cũ 500 mét về phía hạ lưu sông Mã. Cầu độ thông bốn nhịp vượt qua sông Mã dài 380 mét, có khẩu độ thông thuyền lớn nhất dài 130 mét. Hai trụ dưới dòng sông đạt kỷ lục về chiều sâu, nền móng. Hai cây cầu vươn mình bắc qua dòng sông vốn hùng mạnh làm tăng thêm vẻ đẹp và sự bề thế cho cảnh quan nơi đây.

     

  • Tòa Giám mục công giáo Thanh Hóa, chùa Thanh Hà, chùa Chanh và chùa Mật Đa (thành phố Thanh Hóa).

  • Thác Muốn, Điền Quang , Điền Lư, Bá Thước

  • Suối cá Văn Nho,Bá Thước

  • Khu du lịch tâm linh Đền Phố Cát (Thạch Thành)


Bãi Biển Sầm Sơn

Sầm Sơn là thị xã ven biển, phía đông tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Thị xã Sầm Sơn là địa điểm du lịch nổi tiếng tại Việt Nam. Năm 2012, thị xã đã được công nhận là đô thị loại III[5].

Lịch sử

Trước thế kỷ 20, Sầm Sơn chưa xuất hiện trên bản đồ địa lý Việt Nam, vùng đất này thuộc huyện Quảng Xương và chỉ có dãy núi Gầm án ngữ phía Nam vùng đất mà ngư dân đi biển quen gọi là Mũi Gầm, sau dần dần đổi thành núi Sầm (Sầm Sơn), địa danh này cũng còn được gọi là núi Trường Lệ (làng chân núi này cũng gọi là Làng Núi hay làng Trường Lệ). Từ năm 1907, người Pháp đã nhận thấy và bắt đầu khai thác giá trị du lịch của Sầm Sơn để xây dựng thành nơi nghỉ mát phục vụ người Pháp và vua quan Triều Nguyễn. Đây là thời điểm đánh dấu sự ra đời của du lịch Sầm Sơn[6]. Từ ngày 17 đến 19 tháng 7 năm 1960, trong lần về thăm và làm việc với tỉnh Thanh Hóa và nghỉ lại chùa Cô Tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng phát triển khu vực này thành một địa điểm du lich nghỉ mát sau này. Thị xã Sầm Sơn chính thức được thành lập ngày 18 thág 12 năm 1981 theo quyết định số 157/QÐ/HÐBT[7]. Hè năm 2007, Sầm Sơn đã kỷ niệm "100 năm du lịch Sầm Sơn"[6]. Từ tháng 4 năm 2012 thị xã Sầm Sơn được công nhận là đô thị loại 3.[8]

Địa lý

Sầm Sơn cách thành phố Thanh Hóa 16 km về phía Ðông. Diện tích tự nhiên khoảng 18 km², phía Bắc giáp sông Mã, phía Ðông và Nam giáp biển Ðông, phía Tây giáp huyện Quảng Xương. Dân số năm 2002 khoảng 56.595 người.

Sầm Sơn nằm trên vùng đồng bằng phù sa, độ cao dưới 50 mét.

Khoáng sản: Không đáng kể.

Động thực vật: Không đáng kể. Chăn nuôi không được chú trọng, chỉ nuôi gà với quy mô nhỏ.

Dân cư chủ yếu là người Kinh.

Hành chính

  • Phường Bắc Sơn.
  • Phường Trường Sơn.
  • Phường Trung Sơn.
  • Phường Quảng Tiến.
  • Xã Quảng Cư.

Du lịch

Khu du lịch Sầm Sơn nằm cách thành phố Thanh Hóa 16 km. Trong những năm đầu của thế kỉ 20, Sầm Sơn không những được quan chức người Pháp biết đến mà còn có vua quan nhà Nguyễn và khách du lịch biết đến như một nơi nghỉ dưỡng lý tưởng với những bãi cát trắng mịn dài hơn 10 km. Đây là một vùng trời nước mênh mông, nhiều hải sản quí và đặc biệt có dãy núi Trường Lệ với các thắng tích như hòn Trống Mái, chùa Cô Tiên, đền Độc Cước. Biển Sầm Sơn bao la còn là nơi cung cấp nguồn hải sản phong phú như tôm, cá mực, cua, các loại hải sản quý khác... Ngoài du lịch biển, gần đây Sầm Sơn còn mở nhiều loại hình vui chơi giải trí khác để thu hút du lịch như: Khu du lịch văn hóa - vui chơi giải trí "Huyền thoại thần Ðộc Cước", "Khu nhà luyện tập và thi đấu thể dục thể thao tổng hợp", Khu sinh thái Quảng Cư, Khu du lịch văn hóa núi Trường Lệ. Sau 100 năm tuổi, thị xã đã có gần 400 cơ sở nhà nghỉ, khách sạn với hơn sáu nghìn phòng nghỉ, bảo đảm đón từ 15 đến 20 nghìn lượt du khách/ngày và bình quân mỗi năm đón khoảng từ 1,2 đến 1,3 triệu lượt du khách[9].

Năm 2010, ước tính thị xã Sầm Sơn đã đón được hơn 1,9 triệu lượt khách du lịch, tăng 19,3% so với năm 2009; phục vụ ăn nghỉ cho 3,356 triệu lượt khách; doanh thu ước đạt 650,8 tỷ đồng, tăng 21,6% so với năm 2009[10].

Truyền thuyết địa phương

Để tốt hơn cho các đơn vị khi muốn đi Sầm Sơn vào dịp cao điểm mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8, chúng tôi xin gửi đến các bạn một số kinh nghiệm về việc đi nghỉ tại Sầm Sơn.

* Nên đặt tour đi Sầm Sơn vào thời gian ký thật sớm >30 ngày

* Nên đặt phòng khách sạn vào thời gian thấp điểm, ví dụ như vào thứ 2 đến thứ 5 đầu tuần.

* Nếu tự đặt phòng thì nên hỏi rõ xem khách sạn có yêu cầu đặt ăn tại khách sạn hay không?

* Nên đăng ký sớm với công ty tour ghép đoàn nếu là số lượng khách ít, giá sẽ rẻ hơn.

* Khách sạn thuê nên chú trọng đến chất lượng phòng hơn là nhìn bề ngoài khách sạn.

* Thực phẩm nên chọn sản phẩm còn sống – vì nếu không du khách sẽ mua phải sản phẩm để đông lạnh quá lâu, mà du khách không thể tự phát hiện được. (Mua sản phẩm này du khách nên vào các chợ Hải sản, thay vì mua nhiều nguồn khác nhau – giá cả và chất lượng không ổn định và đảm bảo.)

* Tắm biển du khách không nên tắm vào buổi trưa và buổi tối – vì sự an toàn của du khách.

* Tham quan mua sắm tiêu dùng các sản phẩm tại Sầm Sơn du khách nên trả giá sản phẩm trước khi sử dụng dịch vụ.

* Những điểm tham quan thu hút khách như: Núi Trường lệ (du khách tự do thả hồn mình trong bầu không khí trong lành trong bạt ngàn rừng cây hướng về phía mặt biển, thay vì lang thang trên đường nắng gắt và không cảm nhận được vẻ đẹp Sơn – Thủy của Sầm Sơn).

Hòn Trống Mái:

Biểu tượng của du lịch Thanh Hóa, du khách hãy trầm lắng 2 phút để suy nghĩ về hai hòn đá của tạo hóa – thay vì nhìn thấy đi lại, và chụp ảnh. Chắc chắn du khách sẽ không cảm nhận được điều kỳ diệu của tạo hóa.

Vị trí

Điểm du lịch Hòn Trống Mái, thuộc thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Theo con đường lượn trên sườn núi Trường Lệ, chúng ta bắt gặp hai hòn đá nằm chênh vênh trên một phiến đá lớn từ bao đời nay, như thách thức với thời gian và sóng gió. Đó là hòn Trống Mái, biểu tượng thủy chung của tình yêu.

Truyền thuyết

Chuyện kể rằng, ở vùng Sầm Thôn, có chàng trai tên Ngư Phủ, khỏe mạnh lại siêng năng. Vào một buổi chiều, khi thuyền đã cập bến, trời bỗng nổi cơn giông dữ dội, giữa không trung, một cánh cò trắng sức cùng lực kiệt lao xuống vũng Tiên. Thấy vậy, chàng Ngư Phủ mang cò về chăm sóc, từ đó, cò ở lại cùng chàng. Như mọi ngày, chàng Ngư Phủ ra biển quăng chài; cò ở nhà một mình trong lòng rất vui sướng bởi hôm nay, là hết hạn đội lốt cò và được trở về tiên giới. Cò trở thành một người con gái nhan sắc tuyệt trần, nhưng nàng không trở lại thiên đình làm tiên nữ, mà nguyện ở lại trần gian. Ngư Phủ trở về, ngạc nhiên khi thấy nhà cửa gọn gàng, cơm canh đã ở trên mâm, mà vắng bóng cò như mọi khi. Chàng buồn rầu, bỗng từ trong liếp nàng bước ra e lệ cúi chào..., cuộc thiên duyên giữa chàng Ngư Phủ và một tiên nữ đã trở thành hiện thực. Chốn thiên đình, hết hạn phải làm kiếp cò, mà vẫn chưa thấy con gái trở về, hay tin nàng kết hôn với người hạ giới, Ngọc Hoàng nổi trận lôi đình sai người xuống trừng phạt.

Chàng Ngư Phủ hết lời khuyên nhủ nàng trở về trời, nhưng nàng một mực ở lại cùng chàng. Nàng dùng phép, biến vợ chồng thành đôi chim, khi sứ giả bước vào định bắt, thì đôi chim non kia biến thành đá đứng trơ trơ. Phiến đá đó, người dân gọi là hòn Trống Mái. Đó là biểu tượng của tình thủy chung, là khát khao hạnh phúc, được sống trong tình yêu, mà người xưa đã khéo léo gửi gắm vào đất trời nơi đây

Chùa Cô Tiên:

Bác Hồ đã nghỉ qua đêm tại đây năm 1960 điều đặc biệt nữa là từ đây du khách có thể cảm nhận được Rừng và Biển rõ nhất về phía Nam Sầm Sơn. Hơn nữa du khách có thểm chiêm ngưỡng đảo Hòn

Mê phía xa xa khi mà Bác Hồ về thăm có dặn các con cháu nhớ phải biết khai thác nó vào mục đích du lịch vì chắc chắn nó sẽ đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho du lịch Thanh Hóa.

 Vị trí - Địa điểm:

Phía nam núi Trường Lệ, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá

- Cấp bậc - xếp hạng:

Di tích lịch sử văn hoá Quốc gia

- Cơ quan quản lý:

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du Lịch

*  Giới thiệu chung:

Đền không biết được khởi dựng từ thuở nào, nhưng niên đại cũ nhất còn ghi lại là năm Thành Thái nhị niên (1890).

Theo truyền thuyết xưa để lại, đền Cô Tiên được dựng để thờ một người con gái làm nghề thuốc cứu nhân độ thế. Cô đem lòng yêu và lấy chàng nghèo khó mà tốt bụng tên là Côi.
Cuộc sống đang êm ả thì cô gái bị bệnh hủi. Có một cụ già xuất hiện đã chạy chữa bằng thuốc là nam và nước suối lấy từ Vụng Tiên. Cô gái khỏi bệnh, Bà Cụ ra đi để lại cho vợ chồng họ một tay nải để che mưa và một giỏ mây để đựng thuốc lá cứu người.
Một lần , hai vợ chồng đi chữa bệnh về khuỵa, gặp trời mưa to, nhớ lời Bà cụ dặn lấy tay nải ra che mưa, rồi thiếp đi lúc nào không biết. Sáng dậy, hai vợ chồng thấy mình đang ngồi trong một ngôi nhà 3 gian khang trang, sạch đẹp. Từ đó, hai vợ chồng ở lại ngôi nhà, hái lá nam chữa bệnh cho mọi người trong vùng. Một buổi sang đẹp trời cả hai vợ chồng ăn mặc rất đẹp, dắt tay nhau đi lên đỉnh núi rồi không thấy trở về. Từ đó ngôi nhà được trở thành đền Cô Tiên được dân làng khói hương quét dọn.

Đứng ở đền, có thể nhìn thấy đảo Hòn Mê, cả vùng biển Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, bãi biển các xã Quảng Vinh, Quảng Hùng, huyện Quảng Xương. Cho đến nay, đền đã nhiều lần được trùng tu, sửa chữa. Trong đền hiện còn lưu giữ được những câu đối bằng chữ Hán.

Năm 1960, Bác Hồ đã về thăm, nghỉ chân tại ngôi đền và gặp gỡ, trò chuyện với một số dân chài làng Núi. Đền Cô Tiên được công nhận là Di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1962.

Đền Độc Cước:

Mặc dù ―Độc‖ là một nhưng biểu tượng của nó du khách không cảm nhận được nhiều, song đây là một Đền rất linh thiêng. Đem lại cho người dân Sầm Sơn sự an toàn như đang được Thần bảo vệ cho mọi sự an lành của Nhân dân. Du khách đến tham quan nên trân trọng giá trị văn hóa tinh thần của Đền và Thần sẽ che chở cho tất cả mọi người khi du lịch tham quan tại đây.

Đền Độc Cước hay còn gọi là đền Thượng được xây dựng cách đây khoảng 700 năm (dưới thời Trần). Đây là di tích văn hóa đươc Nhà nước công nhận di tích cấp quốc gia năm 1962. Đền nằm trên hòn Cổ Giải thuộc dãy núi Trường Lệ, thờ vị thần Độc Cước (một chân). Thần Độc Cước có rất nhiều truyền thuyết và nơi thờ phụng như Làng An Lạc-(Hoằng Hải), Đại An (Hoằng Lương), Mỹ Du (Hoằng Kim)..thuộc huyện Hoằng Hóa-Thanh Hóa, làng Vân Trai (Cẩm Vân) thuộc huyện Cẩm Thủy-Thanh Hóa...                                                    
            
            Theo tác giả Hoàng Tuấn Phổ, truyền thuyết bao đời nay còn lưu truyền trong dân gian Sầm Sơn câu chuyện về thần Độc Cước: “Thần là một chàng trai to lớn và có sức mạnh phi thường. Để bảo vệ cuộc sống bình yên cho người dân chài ven biển chàng đã tự xẻ thân mình ra làm đôi-một nửa theo người dân ra biển đánh cá còn một nửa đứng trên hòn Cổ Giải để bảo vệ người dân ở đất liền trước loài quỷ biển.Bàn chân của chàng hằn sâu vào núi đá, lưu lại dấu tích đến muôn đời.

  Hiện nay, trên đỉnh hòn Cổ Giải vẫn còn có một tảng đá có vết lõm tựa dấu bàn chân người có kích thước to lớn, tục truyền đó chính là dấu chân chàng khổng lồ đứng đó ngày đêm để giữ yên biển biếc và làng quê thân yêu của mình. Nhớ ơn người anh hùng, nhân dân địa phương đã lập đền thờ chàng khổng lồ ngay trên tảng đá ở ngọn Cổ Giải, nơi có dấu chân người, quanh năm hương khói phụng thờ với lòng thành kính và cầu mong thần che chở, phù hộ cho cuộc sống được bình yên, hạnh phúc”.
           Theo tài liệu Thanh Hóa tỉnh chí về thần tích thánh Độc Cước được ghi: “ Một hôm sau khi mưa to gió lớn thì thấy thần giáng xuông ngọn Miết Cảnh thuộc xã An Niệm, in vào đất đá vết chân trái dài một trượng, rộng năm thốn, người địa phương dựng miếu ngay trên đó để thờ ngài. Việc xảy ra vào thời Lý”.
            Theo cuốn quảng Xương danh thắng bằng chữ nôm do cử nhân Lê Đức Nhuận người xã Quảng Vinh đậu cử nhân năm Canh Thân thời Tự Đức soạn ghi lại câu chuyện như sau: “Đêm mùng 7 tháng giêng mưa to gió lớn, nước ngoài biển dâng lên ngập ngang núi, cây cối đổ rạp, dân trong vùng kinh hãi.Đến ngày 17 tháng 3 cũng năm ấy bỗng thấy một bè gỗ lớn trôi vào chân núi, dân làng cho là gỗ của thần bèn lập 3 đền thờ đó là đền Thượng, đền trung và đền Hạ ở đầu núi, lưng núi và chân núi”.
            Thánh Độc trong sách này còn ghi: “Đền thờ Độc Cước rất uy linh thờ một vị cao tăng đứng một chân đọc kinh, giảng kệ. Một đêm hóa bay lên trời anh linh hiển hiện nhiều nơi thờ phụng, đền nào cũng có vết chân ngài hiển hiện mà đền Sầm Sơn lại chính là đền có vết chân ngài hiển hiện ra lần thứ nhất vậy ”. 
            Hiện nay trong đền còn giữ được 8 đạo sắc phong về thần Độc Cước do triều đình phong kiến các đời phong tặng.

Mua sắm:

Dừa non và nem chua là 02 loại sản phẩm đặc sản của Thanh Hóa

Đi lại

Du lịch Sầm Sơn - Bờ biển Sầm Sơn dài 10km bằng phẳng và nhiều hải sản quý như tôm he, cá thu, mực... Sầm Sơn có cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, vùng biển bao la với những thắng tích và huyền thoại mang đậm chất nhân văn và lòng mến khách. Bãi biển Sầm Sơnlà một trong những bãi biển rộng và đẹp ở phía bắc.

Để đi tới Sầm Sơn, bạn có thể đi bằng ô tô hoặc tàu

.-Nếu ở Hà Nội, đi oto, bạn nên đi bằng đường Hồ Chí Minh. Để bắt xe khách tới Sầm Sơn, bạn có thể tới bến xe Mỹ Đình, mua vé các xe Thanh Hóa, Vinh xuống Bưu điện Tỉnh. Từ đấy có xe bus xuống Sầm Sơn với giá khoảng 15k/người. Nếu bạn đi từ bến xe Giáp Bát có thể đi xe Thành Thắng, Hải Hạnh. Đây là các nhà xe khá có uy tín và chất lượng cao. 

-Nếu đi tàu, bạn có thể mua vé tàu tới Sầm Sơn tại các cửa hàng bán vé trực tuyến hoặc ngay tại ga Hà Nội, tại dịa chỉ 102 Lê Duẩn Hà Nội, khoàng dưới 100.000 vnđ/ vé.Tại Sầm Sơn, có rất nhiều dịch vụ cho thuê xe đạp đôi. Bạn có thể cũng những người thân của mình đạp xe tham thú, hóng mát quanh biển Sầm Sơn. Ngoài ra các dịch vụ xe điện xanh, xích lô cũng rất thông dụng ở đây sẽ khiến bạn sẽ được trải nghiệm những cảm giác thật nhẹ nhàng, lãng mạn.

Khách sạn

KHÁCH SẠN Ở SẦM SƠN BÃI B

Văn phòng : Trung tâm chăm sóc khách tại Sầm Sơn
Đ/C: Đường Lê Lợi - P.Trường Sơn - Sầm Sơn - Thanh Hoá
Liên hệ:  0373 215 867 - FAX : 0373821290 : DD: 
0912951130

-------------------------------------------------------------------------------
Khách sạn giao thông 8 sầm sơn (cách biển 160m)
- Số phòng: 45 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường nguyễn văn cừ, phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  0373826785  - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------------
Khách Sạn K2 sầm sơn ( Cách biển 150m)
- Số phòng: 40 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường nguyễn văn cừ, phường Bắc Sơn
- Liên hệ:   - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------------
Khách Sạn kim long sầm sơn ( Cách biển 120m)
- Số phòng: 42 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 26phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường lê lai - phường Bắc Sơn
- Liên hệ:    fax : 
--------------------------------------------------------------------------------
KS binh đoàn quyết thắng sầm sơn ( Cách biển 100m)
- Số phòng: 40 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường lê lai - phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------------
Khách Sạn Khang sầm sơn ( Cách biển 100m)
- Số phòng: 29 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường nguyễn văn cừ, phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  0373822828  - ; fax : 
------------------------------------------------------------------------------
Khách sạn Thành Đạt sầm sơn (Cách biển 150m)
- Số phòng: 40 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường nguyễn văn cừ, phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  0373826970  - ; fax : 
------------------------------------------------------------------------
Khách Sạn Trường Giang sầm sơn (cách biển 140m)
- Số phòng: 40 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường lê lai - phường Bắc Sơn
- Liên hệ:   - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------------
Khách Sạn thái bình dương (cách biển 160m)
- Số phòng: 80 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (56 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường lê lai - phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  0373823777 - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------------
 NHÀ KHÁCH 296 sầm sơn (cách biển 60m)
- Số phòng: 100 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (66 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 34phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường lê lai - phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  0373  - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------
Khách sạn phương linh sầm sơn (cách biển 50m)
- Số phòng: 40 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường tây sơn - phường Bắc Sơn
Liên hệ đặt phòng:  
--------------------------------------------------------------------------
Khách sạn trung đông sầm sơn (cách biển 60m)
- Số phòng: 40 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường nguyễn văn cừ, phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  0373821658  - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------
Khách sạn hoa mai sầm sơn (cách biển 60m)
- Số phòng: 40 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường nguyễn văn cừ, phường Bắc Sơn
- Liên hệ:    - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------
Khách sạn bộ xây dựng sầm sơn 
- Số phòng: 40 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: đường hồ xuân hương - phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  0373821414  - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------
Khách sạn bộ tài chính sầm sơn (cách biển 160m)
- Số phòng: 40 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường tây sơn - phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  0373821408  - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------
Khách sạn dệt lụa sầm sơn (cách biển 60m)
- Số phòng: 45 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường tây sơn - phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  0373821338  - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------
Khách sạn biển đợi sầm sơn 
- Số phòng: 100 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (76 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường hồ xuân hương - phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------
Khách sạn bộ công thương sầm sơn (cách biển 100m)
- Số phòng: 40 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: Đường tây sơn - phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  0373821569  - ; fax : 
--------------------------------------------------------------------------
Khách sạn bộ ngoại giao sầm sơn 
- Số phòng: 40 ( rộng 20 -22 m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: đường hồ xuân hương - phường Bắc Sơn
- Liên hệ:  0373821414  - ; fax : 
-------------------------------------------------
Khách sạn bộ sây dựng sầm sơn (cách biển 60m)
- Số phòng: 40 ( rộng 20 -22m ) 
- Trong đó  phòng 2 giường đôi 
- Tiện nghi : tivi mới, nhà ăn, điều hòa, nóng lạnh, tủ, bàn ghế, tủ lạnh,
- phòng loại 1 (16 phòng) giá từ 300 - 600/nghìn/phòng/đêm
- phòng loại 2 ( 24phòng) giá từ250 - 400/nghìn/phòng/đêm
- phục vị ăn uống theo yêu cầu của quý khách 
- Địa chỉ: đường hồ xuân hương - phường Bắc Sơn
- Liên hệ:    - ; fax : 

Ăn uống

Sầm Sơn có  nhiều các đặc sản rất hấp dẫn như:

 

- Gỏi cá: Thực khách sẽ cảm nhận được vị ngọt thơm của cá gỏi, mằn mặn, cay cay, beo béo của nước chấm hoà quyện với mùi vị của các loại rau thơm, thật là một cảm giác đặc biệt khó nói hết thành lời.

- Các món rạm: rạm có màu vàng hơn và cái mai cũng mỏng hơn cua. Rạm bắt về có rất nhiều cách chế biến nhưng hai cách chế biến phổ thông nhất là nấu canh và rang với mẻ.

- Sò huyết: Từ sò huyết, người ta chế được rất nhiều món như bò xào sò huyết, Sò huyết hấp, Sò huyết sốt me. Đây là món đặc sản biển rất ngon ngọt và nhiều chất dinh dưỡng.

- Đặc Sản Nem Chua: Nem chua là đặc sản nổi tiếng nhất tại xứ Thanh. Nem ở đây có vị giòn, ngon ngọt và đặc biệt thơm.

- Cháo lươn: Cháo lươn ăn nóng ở đây ăn nóng rất ngon, lươn mềm thơm, cháo hơi loãng gần giống như canh, rất dễ ăn. Thành phố thanh hoá có quán cháo lươn ở đường quốc lộ 1, nếu đi từ phía bắc vào, qua ThanhhoaPlaza một cột đèn đỏ, từ ngã tư giao với đường Nguyễn Trãi đi ngược đường lên khoảng 50m, Hỏi hàng cháo lươn. Hoặc ở Phố Lê Hoàn, gần nhà văn hoá thiếu nhi (chỗ sân Balít) có quán cháo lươn cũng rất ngon, Bà quán này chỉ làm cho vui mà không kinh doanh nên làm rất ít.

Nếu bạn muốn ăn các đặc sản hải sản của Sầm Sơn thì bạn nên tới các nhà hàng biển nằm trong khu du lịch Vạn Chài hoặc nhà hàng hải sản Sầm Sơn. Tại đây vừa là nhà hàng, vừa là vựa hải sản.

Nhà hàng Hồng Thanh

Khu du lịch Vạn Chài, Sầm Sơn. Thị xã Sầm Sơn. Thanh Hoá

037.6271.433, 0168.233.8904

Nhà hàng Thanh Hợi

Đường Thanh Niên (BÃI C), phường Bắc Sơn, Thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Thị xã Sầm Sơn. Thanh Hoá

0373821688

Nhà hàng MInh Hạnh

Khu du lịch Vạn Chài, Sầm Sơn. Thị xã Sầm Sơn. Thanh Hoá

0373.793.537, 0988.886.091

Nhà hàng Sao Biển

số 2 đường Lê Hoàn, Sầm Sơn( ngay sau cái KS Hương Biển ấy). Thị xã Sầm Sơn. Thanh Hoá

0373. 821402

Nhà hàng hải sản Tý Tâm

Khu vực làng Chài, Quảng Cư, Sầm Sơn. Thị xã Sầm Sơn. Thanh Hoá

01698.373.860